- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung — án dân sự — "Chang Chih Ch kiện Võ Ngọc L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Võ Ngọc L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Thùy Tr, sửa án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2020/DS-PT Ngày: 15 - 6 - 2020 V/v “Tranh chấp đòi tài sản; Yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn văn Tửu.
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thanh Duyên.
Ông Phan Đức Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Chí Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2020/TLPT-DS, ngày 03 tháng 02 năm 2020 về việc “tranh chấp đòi lại tài sản; yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu chung”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2019/DS-ST, ngày 26 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 569/2020/QĐXX-DS, ngày 24 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Chang, Chih-Ch (tên khác: Trương Trí Th), sinh năm 1976, cư trú tại: Số 30, lầu 4/2, ngõ 178, đường TN, ấp 11, phường NT, khu VH, thành phố ĐB, lãnh thổ Đài Loan (
).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1992, cư trú tại: Số 5/4B, ấp LT, xã LTT, huyện HT, tỉ
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư
Văn T -
BML thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh ( đơn xin vắng mặt đề ngày 12/6/2020).
- Bị đơn: Bà Võ Ngọc L, sinh năm 1968, cư trú tại: Tổ 15, ấp Tua Hai, xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (c
).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Võ Ngọc L: Luật sư Nguyễn Văn T1 - Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên BP thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh (
).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Võ Thị Thùy Tr, sinh năm 1989, cư trú tại:
TN
NT, khu VH
ĐB
Tổ 01, ấp TH, xã ĐK, huyện CT, tỉnh Tây Ninh (
).
- Người kháng cáo: Bị đơn là bà Võ Ngọc L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Võ Thị Thùy Tr.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Chang, Chih-Ch – tên khác: Trương Chí Th (sau đây gọi là: Anh Th)
Nguyễn Văn Tr
bày:
Anh Th
Anh Th
, Anh Th
Anh Th
Anh Th
Anh Th 28-9-2017 Anh Th
T
-10-2017, Anh Th c
PB, ĐB
(AGRIBANK)
Anh Th
Anh Th sang
L
Nay Anh Th khởi kiện yêu cầu
trả 98.522 USD, q
Anh Th 19.80
Anh Th
Anh Th
- -
-
Anh Th
Anh Th Anh Th
98.522 USD Anh Th, Anh Th
, nên
-
có nhận của anh Chang, Chih-Ch (Trương Trí Th) 98.522 USD
AGRIBANK -
- - trong đó:
+ Anh Th đã cho riêng 500.000.000 đồng,
; Anh Th
- -
số còn lại nhờ giữ
+ Trong những lần Anh Th
Anh Th các khoản như sau:
-mua vé máy bay cho Anh Th Anh Th
Anh Th không
Anh Th
Anh Th
- -
Anh Th, buổi chiều cùng ngày Anh Th
ao 20.000.000 đồng để tiêu xài,
Anh Th
Anh Th là 409.800.000 đồng.
đ
Anh Th
--
Anh Th
-9-2019
Anh Th
yêu cầu của Anh Th
.
-
Võ Thị Thùy Tr
là vợ của anh Chang, Chih-Ch (Trương Trí Th), 98.522 USD Anh Th
cho
là tài sản chung của
Anh Th,
Anh Th
Anh Th
Anh Th
Anh Th nhưng
Anh Th
.
Trong 98.522 USD
riêng
L chi cho Anh Th
Anh Th
Anh Th
Anh Th
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2019/DS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định: a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.
Chang, Chih-Ch (Trương Trí Th)
2. Tuyên xử:
-
Chang, Chih-Ch
-
p
Chang, Chih-Ch
-Chang, Chih-Ch
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm; Về lãi suất, quyền và nghĩa vụ trong thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Cùng ngày 03 tháng 12 năm 2019, bị đơn bà Võ Ngọc L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Thùy Tr đều có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2019/DS-ST, ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
+ Lý do kháng cáo của
là: Con gái
là chị Võ Thị Thùy Tr kết hôn với Anh Th vào năm 2011. Quá trình chung sống chị Tr và Anh Th có tài sản chung là 98.522 USD, số tiền này Anh Th đã cho con
là chị Tr. Do chị Tr con
không có tài khoản riêng ở Đài Loan nên Anh Th nói để anh gửi giùm chị Tr về Việt Nam cho
, nội dung gửi tiền là do Anh Th tự ghi chứ không phải theo ý kiến của
. Cụ thể số tiền 98.522 USD khi đó tính ra tiền Việt Nam đồng là 2.100.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm triệu đồng) được chia ra như sau:
- Số tiền 500.000.000 đồng là của chị Tr và Th cho
.
- Ngày 01/12/2018,
trả chị Tr nhận 600.000.000 đồng; tháng 02/2019
trả chị Tr nhận 500.000.000 đồng. Như vậy, số tiền
đã trả lại chị Tr nhận là 1.100.000.000 đồng.
Còn lại 500.000.000 đồng khi chị Tr và Anh Th về Việt Nam chơi có kêu
đưa tiền tiêu xài và mua vé máy bay, thuê khách sạn, thuê xe đi lại…(cụ thể là
đưa cho chị Tr) đã hết.
Nay Anh Th yêu cầu
trả số tiền đã gửi nêu trên
không đồng ý, ngoài số tiền 500.000.000 đồng vợ chồng chị Tr Anh Th cho
còn giữ thì
không còn giữ khoản tiền nào của vợ chồng chị Tr Anh Th cả.
không đồng ý án sơ thẩm quyết định bà phải trả Anh Th 2.098.000.000 đồng (hai tỷ không trăm chín mươi tám triệu đồng). Vì thế
yêu cầu:
Tòa phúc thẩm sửa án sơ thẩm không buộc
phải trả Anh Th số tiền 2.098.000.000 đồng (hai tỷ không trăm chín mươi tám triệu đồng).
+ Lý do kháng cáo của chị Võ Thị Thùy Tr: Chị Tr và Anh Th kết hôn năm 2011, quá trình chung sống có tài sản chung là 98.522 USD. Do chị Tr không có tài khoản riêng nên chị Tr thỏa thuận để Anh Th gửi giùm số tiền 98.522 USD về cho
và cho chị Tr để
sinh sống.
Cụ thể số tiền 98.522 USD khi đó tính ra tiền Việt Nam đồng là 2.100.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm triệu đồng) được chia ra cụ thể đúng như đơn kháng cáo
đã trình bày nêu trên.
Nay chị Tr kháng cáo yêu cầu tòa phúc thẩm xử không buộc
mẹ chị phải trả Anh Th số tiền 2.098.000.000 đồng (hai tỷ không trăm chín mươi tám triệu đồng). Chị Tr yêu cầu chia đôi số tiền 228.619.840 đồng (hai trăm hai mươi tám triệu sáu trăm mười chín ngàn tám trăm bốn mươi đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Người kháng cáo bà Võ Ngọc L, chị Võ Thị Thùy Tr, trình bày: Giữ nguyên lý do và yêu cầu kháng cáo như đơn kháng cáo ngày 03/12/2019. Không bổ sung chứng cứ mới.
Luật sư Nguyễn Văn T1 trình bày: Kháng cáo của
theo đơn kháng cáo ngày 03/12/2019 là có căn cứ nên đề nghị Tòa chấp nhận kháng cáo của L, sửa án sơ thẩm chỉ buộc
trả Anh Th chị Tr số tiền 228.619.840 đồng.
- Đại diện Anh Th là anh Nguyễn Văn Tr, trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đồng ý theo án sơ thẩm. Không đồng ý với kháng cáo của
và chị Tr nêu trên.
Luật sư Phạm Văn Tình xin vắng mặt theo đơn đề ngày 12/6/2020 và bảo lưu lời trình bày của luật sư như tại cấp sơ thẩm.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Thẩm phán; Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm.
Đối với kháng cáo của bị đơn bà Võ Ngọc L là có căn cứ chấp nhận một phần, do án sơ thẩm buộc
trả Anh Th 2.098.619.840 đồng là chưa xem xét toàn diện chứng cứ, vì ở cấp sơ thẩm Anh Th đã thừa nhận tại Bên bản ngày 29/10/2018 của Công an tỉnh Tây Ninh với nội dung“Tôi Chang-Chih Ch đưa tiền cho vợ nói gửi về cho mẹ tại Việt Nam, mục đích nhờ mẹ giữ để sau hai vợ chồng làm ăn, một phần cho mẹ làm ăn sinh sống”và các lần
giao tiền cho Anh Th một lần 70.000.000 đồng và một lần 200.000.000 đồng trong 02 lần này có 02 lần
mua vé máy bay và thuê xe 19.800.000 đồng thì Anh Th thừa nhận, mặc dù Anh Th không thừa nhận có nhận 02 lần đối với số tiền trên nhưng chị Tr xác nhận việc
giao tiền cho Anh Th là có thật và thời gian này vợ chồng chị Tr, Anh Th và
chưa có mâu thẩn nên có căn cứ để chấp nhận số tiền
giao cho Anh Th, vì thế đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận phần kháng cáo này của
, đối với kháng cáo còn lại của
và chị Tr là không có căn cứ nên đề nghị không chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh tụng và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa sơ thẩm xét xử và tuyên án ngày 26/11/2019 đến ngày 03/12/2019 bị đơn bà Võ Ngọc L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Thùy Tr đều có đơn kháng cáo nên kháng cáo của
và chị Tr là hợp lệ được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về nội dung:
Đối với kháng cáo của bị đơn bà Võ Ngọc L, xét:
thừa nhận có nhận số tiền 98.522 USD do Anh Th gửi từ tài khoản của Anh Th. Theo đơn xin chuyển khoản/chứng từ nhận tiền (BL02- 03) của Ngân hàng Phú Bang, Đài Bắc thể hiện: Số tiền Anh Th chuyển cho
là 98.522 USD và tính chất chuyển khoản ghi: mua bán nhà đất. Tại Chứng từ giao dịch của AGRIBANK- Chi nhánh Tây Ninh ngày 06/10/2017 (BL57) thể hiện người nhận là bà Võ Ngọc L nhận số tiền 98.522 USD quy tiền Việt Nam đồng cùng ngày là 2.238.419.840 đồng (hai tỷ hai trăm ba mươi tám triệu bốn trăm mười chín ngàn tám trăm bốn mươi đồng). Mặc dù lời khai của
trước sau không thống nhất, ở cấp sơ thẩm
khai số tiền 98.522 USD quy tiền Việt Nam đồng cùng ngày là 2.238.419.840 đồng, tại đơn kháng cáo b khai số tiền 98.522 USD quy tiền Việt Nam đồng cùng ngày là 2.100.000.000 đồng, nhưng căn cứ vào chứng từ giao dịch tại Ngân hàng Hội đồng xét xử xác định số tiền 98.522 USD quy tiền Việt Nam đồng cùng ngày là 2.238.419.840 đồng.
cho rằng số tiền 98.522 USD là tài sản chung của chị Tr và Anh Th và Anh Th đã cho chị Tr số tiền này do chị Tr không có tài khoản nên nhờ Anh Th dùng tài khoản của Anh Th gửi về Việt Nam cho
. Lời nại ra này của
được chị Tr thừa nhận nhưng Anh Th không thừa nhận, vì người chuyển tiền là Anh Th, và chị Tr cũng thừa nhận Anh Th có tài sản riêng là căn nhà của cha mẹ cho và Anh Th đã bán trị giá 3.500.000 tân tài tuệ (tương đương 3 tỷ tiền Việt Nam đồng) nên Hội đồng xét xử xác định số tiền 98.522 USD quy tiền Việt Nam đồng cùng ngày là 2.238.419.840 đồng. Là tài sản riêng của Anh Th.
yêu cầu trừ số tiền 500.000.000 đồng ra khỏi số tiền 2.238.419.840 đồng của Anh Th gửi
nhận. Lý do: Anh Th và chị Tr cho
số tiền này. Xét, yêu cầu này của
được chị Tr thừa nhận vì chị Tr cho rằng số tiền 2.238.419.840 đồng là tài sản chung của chị và Anh Th, mặc dù không được Tòa thừa nhận là tài sản chung như nhận định trên, nhưng xét yêu cầu này của
là có căn cứ, vì: Chị Tr đã có thời gian nhiều năm ở Đài Loan đi làm có thu nhập và Theo lời khai của Anh Th ngày 29/10/2018 tại Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Tây Ninh thì Anh Th đã khai “Tôi Chang-Chih Ch đưa tiền cho vợ nói gửi về cho mẹ tại Việt Nam, mục đích nhờ mẹ giữ để sau hai vợ chồng làm ăn, một phần cho mẹ làm ăn sinh sống” đây là lời khai Anh Th thừa nhận chữ ký là của Anh Th, không có việc bị ép buộc, nên việc Anh Th cho rằng người phiên dịch dịch không đúng ý anh là không có căn cứ, Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của
là chưa đúng vì thế chấp nhận phần kháng cáo này của
, sửa án sơ thẩm.
yêu cầu khấu trừ số tiền trong những lần Anh Th đến Việt Nam,
Anh Th các khoản như sau:
-mua vé máy bay cho Anh Th Anh Th
Anh Th
,
Anh Th
Anh Th
- -
Anh Th, buổi chiều cùng ngày Anh Th
Anh Th ghi biên chi cho Anh Th là 409.800.000 đồng.
Xét, trong số tiền nêu trên Anh Th chỉ thừa nhận
có chi số tiền chi phí thuê xe và mua vé máy bay với số tiền 19.800.000 đồng, 02 lần có biên nhận một lần ngày 29/10/2018 là 20.000.000 đồng, một lần ngày 03/11/2018 là 100.000.000 đồng; còn số tiền
giao 02 lần không giấy là tờ trước ngày 29/10/2018 là 270.000.000 đồng thì Anh Th không thừa nhận, nhưng đây là thời gian Anh Th, chị Tr và
chưa có mâu thuẫn, chị Tr thừa nhận
có đưa số tiền trên, Anh Th cũng thừa nhận trong khi 02 lần này
có chi phí thuê xe, mua vé máy bay cho Anh Th số tiền 19.800.000 đồng nên có căn cứ chấp nhận số tiền
chi cho Anh Th 02 lần là 270.000.000 đồng. Cộng nhận số tiền 409.000.000 đồng là
đã chi cho Anh Th nhận nên được khấu trừ.
Đối với số tiền
chi cho chị Tr 02 lần bằng 1.100.000.000 đồng, chị Tr thừa nhận. Xét, như nhận định trên số tiền 2.238.419.840 đồng. Là tài sản riêng của Anh Th. Nên việc
tự ý đưa chị Tr mà không được sự đồng ý của Anh Th thì
và chị Tr tự giải quyết với nhau, Anh Th không chịu trách nhiệm, do đó không chấp nhận kháng cáo này của
.
Từ nhận định ở mục [1] nêu trên nên Hội đồng xét xử cũng chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, chấp nhận một phần kháng cáo của
và chị Tr về số tiền chi cho Anh Th nhận không có biên nhận và số tiền Anh Th cho
; không chấp nhận kháng cáo của
đối với số tiền 1.100.000.000 đồng giao cho chị Tr; không chấp nhận kháng cáo của chị Tr về yêu cầu chia số tiền 228.619.840 đồng, sửa án sơ thẩm. Buộc
trả Anh Th số tiền 1.328.619.840 đồng lấy tròn 1.328.620.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của Anh Th với số tiền 770.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên tính lại án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể:
phải nộp án phí giá ngạch của số tiền 1.328.620.000 đồng phải trả ra; Anh Th phải chịu án phí giá ngạch của số tiền 770.000.000 đồng không được chấp nhận.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên
, chị Tr không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả
, chị Tr mỗi người 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí.
Quyết định khác của án sơ thẩm về đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309, Điều 147, Điều 148, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 166, khoản 1 Điều 579 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 26, Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Võ Ngọc L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Thùy Tr, sửa án sơ thẩm.
2.
một phần yêu cầu khởi kiện của anh Chang, Chih-Ch (Trương Trí Th)
-
Chang, Chih-Ch 1.328.620.000 đồng (một tỷ, ba trăm hai mươi tám triệu, sáu trăm hai mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày anh Chang, Chih-Ch
Võ Ngọc L anh Chang, Chih-Ch tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Không chấp nhận yêu cầu của anh Chang, Chih-Ch đối với yêu cầu bà Võ Ngọc L trả số tiền 770.000.000 đồng (bảy trăm bảy mươi triệu đồng).
4 Chang, Chih-Ch hai mươi hai triệu sáu trăm mười chín ngàn tám tăm bốn mươi đồng).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Chang, Chih-Ch nộp 34.800.000 đồng (ba mươi bốn triệu tám trăm ngàn đồng); bà Võ Ngọc L nộp 51.858.000 đồng (năm mươi mốt triệu tám trăm năm mươi tám ngàn đồng) tiền án phí; phần án phí của anh Chang, Chih-Ch được khấu trừ từ 38.300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000822 ngày 24/01/2019 còn lại 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng) hoàn trả lại anh Chang, Chih-Ch, phần án phí của bà Võ Ngọc L được khấu trừ từ 22.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lại thu số 0000997 ngày 22/7/2019 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh còn lại bà Võ Ngọc L phải nộp tiếp là 29.358.000 đồng (hai mươi chín triệu ba trăm năm mươi tám ngàn đồng).
-
11
Võ Thị Thùy Tr 2.538.000 (hai triệu, năm trăm ba mươi tám nghìn) đồng.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Võ Ngọc L và chị Võ Thị Thùy Tr không phải nộp, hoàn trả bà Võ Ngọc L và chị Võ Thị Thùy Tr mỗi người 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0001122 và 0001123 cùng ngày 03/12/2019 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
7. Quyết định khác của án sơ thẩm về đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Cục THADS tỉnh Tây Ninh; - Các đương sự (3); - Lưu hs (2) vp (5) 14b (án 09) | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tửu |