vanban.org

Bản án 168/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trần T.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Gia B, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2016 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị L không yêu cầu anh Tuân cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở, nhưng anh T không được lạm dụng việc thăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trần T.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 06 /8/2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn ”

NHÂN DANH

-

:

-

:

:

Ông Trần Đình Văn

Bà Trần Thị Bích Thủy.

-

: Ông Võ Tấn Tiến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ.

-

: Ông Đinh Quốc Vương - Kiểm sát viên.

06

8 năm 2019

53/2019/TLST- HNGĐ

18/3/2019 “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

981 /2019/QĐXX- ST

29

6 năm 2019

:

-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1990, có mặt.

Địa chỉ: Tổ A, phường B, thị xã K, tỉnh Gia Lai.

- Bị đơn: Anh Trần T, sinh năm: 1993, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/12/2018, đơn bổ sung ngày 18/01/2019

Nguyễn Thị L

:

Về hôn nhân: Chị L đăng ký kết hôn với anh Trần T tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã K, tỉnh Gia Lai

24/4/2015 (Giấy chứng nhận kết hôn số 27/2015; quyển số 01/2014). Sau khi kết hôn vợ chồng chị L anh T đến cư trú tại huyện H, tỉnh Kon Tum, thời gian đầu vợ chồng Chị sống hạnh phúc nhưng dần dần về sau vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn mà nguyên nhân chính là anh T sống không có trách nhiệm với vợ con mà còn thường xuyên đánh chị L. Đến tháng 8 năm 2017 chị L và anh T không chung sống với nhau nữa, chị L về nhà cha mẹ Chị ở phường B, thị xã K để ở còn anh T về nhà của mẹ Anh ở xã C, huyện P để ở. Kể từ đó Chị và anh Tuân sống ly thân. Nay chị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho Chị được ly hôn anh T.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có một con chung là Trần Gia B, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2016. Hiện con đang ở với chị L. Ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi cháu B, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nghĩa vụ về tài sản: Không có.

đơn anh Trần T: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản,

, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy

theo quy định tại Điều 177 a Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn anh Trần T không đến Tòa và không có văn bản ghi ý kiến của anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

.Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung: Tạm giao con chung cho chị Lệ nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Không xét. Về án phí: Chị L phải chịu theo quy định của luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ nhận định:

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T theo quy định tại khoản 5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng T không đến tòa và cũng không có văn bản ghi ý kiến của anh gởi cho Tòa án. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Nguyễn Thị L và anh Trần T là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do anh T không có trách nhiệm với vợ con mà còn đánh chị L. Từ đó, tình cảm vợ chồng bị sứt mẻ nên chị L và anh T đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2017 cho đến nay.

, anh T

T

. Cho thấy tình cảm vợ chồng chị L, anh T thực sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy nếu có duy trì, bảo vệ hạnh phúc của chị L, anh T chắc chắn không mang lại kết quả gì. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị L được ly hôn anh T.

Về nuôi con chung: Chị L và anh T có một con chung là cháu Trần Gia B, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2016. Hiện cháu B đang ở với chị L. Ly hôn chị L yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, hiện nay cháu B đang ở với chị L nên để đảm bảo và ổn định cuộc sống của cháu nên giao cháu B cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở, nhưng anh T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị L. Khi cần thiết chị L, anh T đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Nghĩa vụ về tài sản: Không có.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm ly hôn

L

0000721

18/3/2019

.

,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dựng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trần T.

2.Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Gia B, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2016 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị L không yêu cầu anh Tuân cấp dưỡng nuôi con.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở, nhưng anh T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị L. Khi cần thiết chị L, anh T đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

3.Về chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Hội đồng xét xử không xét.

4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm ly hôn

.

Chị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của anh T tính từ ngày anh T nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.

: -

;

Cỡ chữ