vanban.org

Bản án 168/2018/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 01/08/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/08/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "nguyên đơn Nguyễn Ngọc C bị đơn Trần Văn N"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2018/DS-PT
Ngày: 01/8/2018
V/v tranh chấp ranh giới
quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê H ng Nước

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Vĩnh

Ông Đinh Chí Tâm

- Th

phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trãi Thư T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- ại di n i n i m át nh n d n t nh ng Tháp: Bà Phạm Thị Thanh H ơng Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 11 tháng 7 và 01 tháng 8 năm 2018 tại trụ s T a án nhân dân t nh Đ ng Tháp t ử phúc thẩm c ng hai vụ án thụ l số 59/2018/TLPT-DS ngày 19 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2018/DS - ST ngày 06 tháng 3 năm 2018 của T a án nhân dân thành phố Sa Đ c bị háng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử phúc thẩm số 168/2018/QĐ – PT ngày 08/6/2018 và Quyết định hoãn phiên t a số 164/2018/QĐ-PT ngày 04/7/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc C.

Địa ch : ấp KH ã TKĐ thành phố SĐ t nh Đ ng Tháp

Người đại diện theo ủy quyền cho bà C: Anh Lý Thanh L

Địa ch :ấp KH ã TKĐ thành phố SĐ, t nh Đ ng Tháp theo văn bản ủy quyền ngày 23/01/2008.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn N (chết)

Địa ch : ấp KH ã TKĐ thành phố SĐ, t nh Đ ng Tháp.

Người ế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:

2.1. Bà Trần Thị Thu H.

Địa ch : ấp KH ã TKĐ thành phố SĐ.

2.2. Bà Trần Thị Thu C1.

Địa ch : ấp KH ã TKĐ thành phố SĐ

2.3. Bà Trần Thị Thu P.

Địa ch : hóm TH phường TQĐ thành phố SĐ.

2.4. Bà Trần Thị Thu N1.

Địa ch : Khóm 3 Phường 2 thành phố X Đ ng Tháp

2.5. Anh Lê Trần Đắc V sinh năm 1992

Địa ch : ấp KH ã TKĐ thành phố SĐ.

2.6. Bà Trần Thị Thu N2 sinh năm 1959

Địa ch : hóm PMH thị trấn CTH huyện CT t nh Đ ng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của bà C1, bà P, bà N1, anh V: Bà Trần Thị Thu N2 sinh năm 1959 theo văn bản ủy quyền ngày 15/3/2018; 05/02/2018; 03/5/2018; 02/5/2018).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị Thu C1: Luật sư X Văn ph ng luật sư Y thuộc Đoàn luật sư t nh Đ ng Tháp.

2.7. Bà Trần Thị Thu Đ.

Địa ch : ấp KH ã TKĐ thành phố SĐ.

2.8. Bà Trần Thị Thu L1 sinh năm 1960

Địa ch : ấp TBT ã TH huyện TB Đ ng Tháp.

2.9. Ông Trần Ái V.

Địa ch : ấp KH ã TKĐ thành phố SĐ.

2.10. Ông Trần Quốc H1, sinh năm 1954

Địa ch : Số nhà 161 ấp Khánh Hoà ã Tân Khánh Đ ng thành phố SĐ.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Uỷ ban nhân dân thành phố SĐ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Thanh T – Chủ tịch UBND thành phố SĐ.

Có m t: Ông L, bà N2, bà Đ, ông H1 luật sư X; Vắng m t: bà L1, ông V (có đơn in xét xử vắng m t), bà H, ông T vắng m t không lý do.

NỘI DUNG V ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc C là ông Lý Thanh L trình bày:

Ngu n gốc đất đang tranh chấp là của bà Trần Thị B là mẹ của bà Nguyễn Ngọc C sử dụng liên tục từ trước năm 1975. Sau đó bà B để lại cho bà C sử dụng. Ngày 05-3-1996, bà C được UBND thị ã (nay là thành phố) Sa Đ c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) diện tích 3.894m2 tờ bản đ 05 g m các thửa: 272 diện tích 2.479m2 đất lúa thửa 277 diện tích 1.100m2 loại đất lâu năm (LNK) thửa 278 diện tích 315m2 loại đất thổ (T) tọa lạc tại ã TKĐ, thành phố SĐ.

Trong quá trình sử dụng đất từ thời bà B c n sống giữa 02 phần đất của bà B và ông N có hàng cây ương r ng cây cau để ác định ranh đất. Khoảng năm 2000-2001, khi bà C ây dựng lại nhà cấp 4 trên nền nhà cũ của bà B để lại ông N ch định vị trí ranh đất cho con ng N là ông V và con bà C là ông Minh tr ng trụ đá. Khi bà C xây nhà, lúc ông N c n sống h ng có tranh chấp. Đến năm 2006 bà Trần Thị Thu C1 là con của ng N được ng N cho đất (chưa sang tên) cất nhà trên phần đất có ranh liền ề với đất bà C. Khi xây nhà, bà C1 tự ch t bỏ hàng cây cau cây ương r ng và nhổ các trụ đá cắm dọc theo ranh đất.

Nay bà Nguyễn Ngọc C yêu cầu ác định ranh đất giữa bà và ng N tại thửa 277 278 (nay là thửa 239 tờ bản đ 31 theo bản đ chính quy có tọa độ) là đường nối từ các mốc 1-4a-8 (theo Sơ đ đo đạc ngày 25-4-2016 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai thành phố SĐ).

Người ế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ng Trần Văn N bà Trần Thị Thu C1 trình bày:

Ngu n gốc đất đang tranh chấp tại ấp KH, xã TKĐ thành phố SĐ là của cha mẹ bà C1 tên Trần Văn N (chết 2011) và bà Huỳnh Thị Ba (chết 1989). Ngày 30-5-1996, ông N ê hai và được Uỷ ban nhân dân thị ã (nay là thành phố) SĐ cấp giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 9.636m2 trong đó: thửa 159 diện tích 1.279m2 đất màu; thửa 161 diện tích 3.512m2 đất lúa; thửa 162 diện tích 1.012m2 đất lúa; thửa 269 diện tích 782m2 đất thổ; thửa 270 diện tích 3.051m2 đất cây lâu năm cùng tờ bản đ 05. Ngày 27-9-2004 Hộ ng N cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ diện tích c n lại là 8.500 m2, tờ bản đ 31 trong đó: thửa 228 diện tích 4.125m2 g m: đất thổ 782m2 đất vườn 3.343m2; thửa 248 diện tích 1.062m2 đất HNK thửa 259 diện tích 3.313m2 đất lúa. Phần đất tranh chấp với bà C hiện tại là thửa 228.

Năm 1987 ng N cho bà C1 một phần đất tại thửa 228 phía giáp ranh với bà C để cất nhà (hiện chưa làm thủ tục sang tên). Khi đó ranh đất giữa ng N với bà C được ác định b i hàng cây ương r ng. Nhưng do bà C1 đi làm thường uyên h ng có nhà hi về thấy hàng ương r ng đã bị con bà C nhổ bỏ nên bà C1 g i đơn đến Ban nhân dân ấp Khánh Hòa giải quyết. Sau hi hòa giải thì bà C tr ng lại các cây g n c n bà C1 thì tr ng lại hàng ương r ng cây trà để ác định ranh đất giữa hai bên.

Năm 2000 bà C ây dựng nhà đã nhổ hết hàng ương r ng mà bà C1 tr ng làm ranh và ây dựng nhà phần nhà sau lấn qua ranh đất của ng N. Do lúc đó ng N vắng nhà nên h ng hay biết. Sau đó ng N có hiếu nại đến Ban nhân dân ấp KH. Năm 2003 phía bà C tr ng lại trụ đá trong đó có trụ thứ hai (phía hông nhà sau của bà C) tr ng trụ đá lấn sang phần đất của ng N hoảng 7-8 tấc. Bà C1 có yêu cầu bà C nhổ trụ đá thứ hai tr ng lại cho đúng ranh nhưng bà C h ng đ ng nên bà C1 đập bỏ trụ đá. Sau nhiều lần h a giải của Ban nhân dân ấp Uỷ ban ã TKĐ không thành, bà C h i iện ng N tại T a. Ông N ủy quyền cho bà C1 tham gia giải quyết tranh chấp.

Nay bà C1 h ng đ ng theo yêu cầu của bà C. Bà C1 yêu cầu ác định ranh đất giữa bà C và ông N tại thửa 228 là đường nối từ các mốc 2-3-7-8; (theo Sơ đ đo đạc ngày 25-4-2016 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai thành phố SĐ) yêu cầu bà C di dời nhà và c ng trình ây dựng lấn chiếm trả lại diện tích đất theo ranh đất do bà ác định.

Người ế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ng Trần Văn N ông Trần Ái V trình bày:

Ranh đất giữa bà C và ông N trước đây có hàng cây cau và ương r ng. Khi bà C ây dựng nhà hoảng năm 2001 -2002, lúc ông N c n sống. Ông N thống nhất ranh đất với bà C và yêu cầu ng V trực tiếp ch vị trí ranh và giám sát việc ây dựng nhà của bà C đến hoàn thành. Lúc bà C ây dựng nhà có chừa lại phần đất hoảng vài tấc để bắt dàn giáo. Đ ng thời từ năm 2001 2002 đến năm 2006 ông N h ng tranh chấp ranh đất với bà C. Thời điểm này bà C1 đi c ng tác nên h ng thường uyên nhà. Từ năm 2006, bà C1 về ây nhà trên phần đất ng N cho (giáp ranh bà C) h ng thống nhất ranh đất với bà C nên ông N uỷ quyền cho bà C1 tranh chấp với bà C địa phương và đến Toà.

Tại phiên t a sơ thẩm, ông V thay đổi lời hai: Ông V cho rằng do trước đây h ng biết chính ác ranh đất của ng N được cấp là tại vị trí nào nên mới ch ranh cho bà C ây nhà là h ng chính ác. Nay ng thống nhất ranh đất của ông N do Uỷ ban ác định thống nhất yêu cầu của bà C1 về việc ác định ranh đất giữa bà C và ông N là đường nối từ các mốc 2-3-7-8 (theo Sơ đ đo đạc ngày 25-4-2016 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai thành phố SĐ).

Người ế thừa quyền, nghĩa vụ của ng Trần Văn N ông Trần Quốc H1 trình bày:

Ông H1 thống nhất lời hai trước đây của ng V. Khoảng năm 2000 bà C ây dựng nhà ng N thống nhất ranh đất với bà C h ng có tranh chấp. Khi ây nhà bà C chừa lại phần đất cách hàng rào ương r ng hoảng 5-6 tấc để bắt dàn giáo. Khi bà C1 xây nhà, bà C1 h ng thống nhất ranh với bà C nhưng ng N là người đứng tên QSDĐ nên ông N uỷ quyền cho bà C1 đại diện đứng ra tranh chấp với bà C địa phương.

Nay ông H1 ác định hiện trạng thực tế ranh đất giữa bà C với ng N xác định b i các mốc 1 4a 8 là đúng. Ông H1 h ng tranh chấp ranh đất với bà C.

Người ế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ng Trần Văn N bà Trần Thị Thu H trình bày:

Khi bà C xây nhà lúc ông N c n sống. Ông N, ông V cùng con bà C là Minh tr ng trụ đá ác định ranh đất. Ông V là người chịu trách nhiệm giám sát xây nhà dùm bà C. Khi xây nhà, bà C có chừa phần đất cách nhà để m cửa sổ và bắt dàn giáo. Bà H ác định bà C h ng có lấn ranh của ng N. Nay bà H không có tranh chấp gì trong vụ án.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND thành phố SĐ: Ông Nguyễn Văn H3 trình bày:

Trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ các thửa 272 277 278 cùng tờ bản đ 05 diện tích 3.894m2 cho bà Nguyễn Ngọc C ngày 05-3-1996 và các thửa 228 248 259 cùng tờ bản đ 31 diện tích 8.500m2 cho hộ ng Trần Văn N ngày 27-9-2004 là đúng quy định của pháp luật.

Thửa 227 228 (theo hệ thống bản đ 299) nay là thửa 239 theo bản đ địa chính chính quy. Tuy hai hệ thống bản đ quản l số thửa hác nhau nhưng trên thực địa là cùng một vị trí.

Tại C ng văn 193/UBND-NC ngày 28-12-2017 và C ng văn 16/UBND-NC ngày 26-01-2018 Uỷ ban ác định phần đất tranh chấp thể hiện tại Hình 2 và Hình 3 trên Sơ đ đo đạc thuộc thửa 228 đã cấp cho Hộ ng N.

- T i n n d n

02/2018 DS-ST ngà 06 th ng 3 năm 2018 c a T a n nh n d n thành ph SĐ đã xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc C về việc ác định ranh đất giữa bà Nguyễn Ngọc C và ng Trần Văn N là đường thẳng nối từ các mốc 1-4a-8, yêu cầu những người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ng Trần Văn N giao phần đất thể hiện tại H2 g m các mốc: 1-2-3-4-5-6-7-8-4a-1 diện tích 27 2m2 và phần đất thể hiện tại Hình 3 thể hiện tại các mốc 3-4-5-6-7-3 diện tích 4 2m2 theo Sơ đ đo đạc ngày 25-4-2016 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai thành phố Sa Đ c bổ sung theo C ng văn số 66B/TA-DS ngày 09-02-2018 của T a án nhân dân thành phố SĐ cho bà Nguyễn Ngọc C được quyền quản l sử dụng (hiện là thửa 239 tờ bản đ số 31).

Xác định ranh giới quyền sử dụng đất thửa 227 228 tờ bản đ 5 (theo hệ thống bản đ 299 nay là thửa 239 tờ bản đ 31 theo hệ thống bản đ địa chính chính quy) của bà Nguyễn Ngọc C với thửa 228 tờ bản đ 31 của Hộ ng Trần Văn N là đường nối b i các mốc 1-4a-8 theo Sơ đ đo đạc ngày 25-4-2016 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai thành phố Sa Đ c bổ sung theo C ng văn số 66B/TA-DS ngày 09-02-2018 của T a án nhân dân thành phố SĐ (Có Sơ đ đo đạc èm theo).

Buộc những người ế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ng Trần Văn N g m: bà Trần Thị Thu H bà Trần Thị Thu C1 bà Trần Thị Thu P bà Trần Thị Thu Đ bà Trần Thị Thu N2 bà Trần Thị Thu L1 bà Trần Thị Thu N1, anh Lê Trần Đắc V ng Trần Ái V ng Trần Quốc H1 di dời rào lưới B40 giao phần đất thể hiện tại H2 g m các mốc: 1-2-3-4-5-6-7-8-4a-1 diện tích 27 2m2 và phần đất thể hiện tại Hình 3 thể hiện tại các mốc 3-4-5-6-7-3 diện tích 4 2m2 theo Sơ đ đo đạc ngày 25-4-2016 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai thành phố SĐ bổ sung theo C ng văn số 66B/TA-DS ngày 09-02-2018 của T a án nhân dân thành phố SĐ cho bà Nguyễn Ngọc C được quyền quản l sử dụng (Có Sơ đ đo đạc èm theo).

Nguyên đơn những người ế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều ch nh ranh đất theo đúng ranh giới sử dụng đất đã được T a án ác định.

ề án phí d n ự ơ thẩm: Bà Trần Thị Thu H bà Trần Thị Thu C1, bà Trần Thị Thu P bà Trần Thị Thu Đ bà Trần Thị Thu N2 bà Trần Thị Thu L1, bà Trần Thị Thu N1 anh Lê Trần Đắc V ng Trần Ái V ng Trần Quốc H1 phải liên đới chịu 1.564.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Ngọc C được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp ngày 12-12-2008 theo biên lai số 009670 và ngày 13-11-2017 theo biên lai số 01230 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố SĐ.

ề chi phí tố tụng hác: Bà H, bà C1, bà P, bà Đ, bà N2, bà L1, bà N1, anh V, ông V, ông H1 phải liên đới chịu toàn bộ chi phí thẩm định đo đạc định giá là 3.173.000 đ ng. Bà C1 đã nộp 2.773.000 đ ng bà C đã nộp 400.000 đ ng. Buộc bà H, bà C1, bà P, bà Đ, bà N2, bà L1, bà N1, anh V, ông V, ông H1 phải liên đới trả lại cho bà C 400.000 đ ng.

Ngoài ra bản án dân sự sơ thẩm c n tuyên về hướng d n thi hành bản án và thời hạn háng cáo.

Sau hi t ử sơ thẩm ngày 08/3/2018 bà Trần Thị Thu C1 là người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, háng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 02/2018/DS-ST ngày 06/3/2018 của T a án nhân dân thành phố SĐ.

Tại phiên t a phúc thẩm:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị Thu C1: Luật sư X trình bày: Diện tích 31,4m2 trong phạm vi hai bên xác định ranh giới thể hiện tại sơ đ đo đạc ngày 25/4/2016 Ủy ban nhân dân thành phố Sa Đ c xác định cấp giấy CNQSDĐ cho ông N nên bà C phải trả lại cho ông N mới đúng. Trụ đá nằm trên đoạn thẳng nối từ mốc số 2 đến mốc số 3 bà có xác định là mốc ranh nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử mốc số 1 là không phù hợp. Bà C lấy mốc 4a để làm căn cứ xác định ranh là dựa vào ô văn nhà của bà C. Nguyên tắc ranh đất phải là đường thẳng như bà C1 xác định, phù hợp với Ủy ban nhân dân thành phố SĐ đã xác định nên đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà C1 sửa bản án dân sự sơ thẩm.

Bà Trần Thị Thu N2 trình bày: Thống nhất lời trình bày của luật sư.

Ông Lý Thanh L là người được bà C ủy quyền trình bày: Năm 2000 bà C cất lại nhà như hiện nay là do ông Trần Ái V con ông N xác định ranh và giám sát việc cất nhà cho bà C, ông N thống nhất không có tranh chấp, đến khi ông N cho bà C1 đất để cất nhà mới xãy ra tranh chấp cho đến nay, ranh đất giữa hai bên được xác định b i hàng rào xương r ng, cây cao do bà C1 đốn khi bà cất nhà, đối với trụ đá như luật sư trình bày là do bà C1 tr ng khi làm hàng rào đ để chống trộm nên đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà C1 giử nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Ông Trần Quốc H1 trình bày: Ông cũng là con của ông N, việc bà C xác định ranh như án sơ thẩm đã xử là đúng theo hiện trạng, ông N đã thống nhất và không có tranh chấp.

Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát biểu:

Về tố tụng: Từ hi thụ l vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ l giải quyết vụ án đúng các quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a Hội đ ng t ử phúc thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt nội quy phiên t a.

Về nội dung: Căn cứ công văn số 16/UBND-NC ngày 26/01/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Sa Đ c có nội dung khi hai bên đương sự đăng ký QSDĐ là do các bên đương sự tự khai, không có đo đạc thực tế; công văn số 34/UBND-NC ngày 18/01/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Sa Đ c có nội dung về việc cấp đổi giấy CNQSDĐ của hộ ông N và năm 2004 là dựa trên kết quả đo đạc thành lập bản đ địa chính chính quy do Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và môi trường T nh thực hiện nên không có biên bản xác định ranh đất giữa các bên, việc cấp giấy CNQSDĐ cho hộ ông N có phần đất của bà C sử dụng (đã xây nhà) là do xác định ranh giới, mốc giới tại thời điểm đo đạc thành lập bản đ địa chính chưa chính xác theo hiện trạng sử dụng, trong khi đó bà C xây dựng nhà kiên cố trước thời điểm ông N được cấp đổi giấy CNQSDĐ, việc này được các bên thừa nhận. Do đó, đề nghị Hội đ ng t ử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà C1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2018/DS-ST ngày 06/3/2018 của T a án nhân dân thành phố SĐ.

Sau hi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ được thẩm tra tại phiên t a căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên t a và lời phát biểu của đại diện Viện iểm sát.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét yêu cầu háng cáo của bà Trần Thị Thu C1 về việc yêu cầu ác định ranh giới quyền sử dụng đất thửa 228 của ng N với thửa 277 278 tờ bản đ số 05 (bản đ 299) nay là thửa 239 tờ bản đ số 31(theo bản đ địa chính chính quy) là đường thẳng nối các mốc 2 3 7 đến mốc 8 theo sơ đ đo đạc ngày 25/4/2016 bổ sung ngày 26/02/2018 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai thành phố Sa Đ c. Hội đ ng t ử t thấy:

- Căn cứ mà bà C1 yêu cầu ác định ranh đất giữa ng N và bà C như trên là dựa vào h sơ ỹ thuật thửa đất và trích lục ngày 13/11/2008 của Chi nhánh Văn ph ng đăng quyền sử dụng đất thị ã SĐ (nay là thành phố SĐ) cung cấp. Tuy nhiên tại C ng Văn số 16/UBND-NC ngày 26/01/2018 (bút lục 284) của Ủy ban nhân dân thành phố SĐ thì diện tích đất tranh chấp thuộc một phần thửa 228 của ng N nhưng việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 228 cho ng N là qua đối chiếu dựa trên ết quả đo đạc thành lập bản đ địa chính chính quy do Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và M i trường T nh thực hiện h ng có biên bản ác định ranh đất giữa các bên nên chưa chính ác theo hiện trạng sử dụng đất.

- X t về hiện trạng ranh đất do các bên trình bày: Cả nguyên đơn và bị đơn đều ác định hiện trạng ranh đất giữa hai bên trước đây là hàng ương r ng, cây cao có từ thời bà B c n sống.

- Bà C1 cho rằng năm 2000 khi bà C ây dựng nhà đã nhổ hàng ương r ng để lấn sang diện tích đất của ông N như hiện nay lúc đó ng N không có nhà nên h ng hay biết. Tuy nhiên theo lời trình bày của bà C và phù hợp với lời trình bày của những người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ng N là: ng Trần Ái V (BL 182 – 183) ng Trần Quốc H1 (BL 191 – 192) bà Trần Thị Thu H (BL 195), thì khi bà C xây nhà thì ông N có biết và ác định ranh để bà C xây nhà, ông V cũng là người giám sát việc ây nhà cho bà C nên việc bà C1 cho rằng ng N h ng biết việc bà C ây nhà lấn qua đất của ng N là h ng đúng. Đ ng thời theo ác nhận của ng Nguyễn Hữu Hiếu (BL 41) là thợ h h i c ng ây nhà cho bà C xác định khi bà C cất nhà thì phía sau hậu cách hàng rào ranh 1 hoảng ( h ng ác định được cụ thể).

[2] X t việc bà C1 cho rằng hi bà C ây nhà đã lấn qua đất của ng N, ông N h ng biết cũng h ng có ác định ranh với bà C là chưa phù hợp với lời hai của những người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ng N là bà H, ông V và ông H1 (cùng là con của ng N). Đ ng thời sau hi bà C cất nhà hoảng năm 2000 đến năm 2006 thì ông N cũng h ng có tranh chấp gì đối với bà C đến năm 2007 hi ng N cho đất bà C1 cất nhà thì mới ãy ra tranh chấp. Do đó lời trình bày của bà C1 là chưa phù hợp.

[3] X t việc bà C1 yêu cầu ác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa bà C và ông N là đường thẳng nối các mốc 2 3 7 đến mốc 8 theo sơ đ đo đạc ngày 25/4/2016 bổ sung ngày 26/02/2018 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai thành phố SĐ chưa phù hợp với hiện trạng ranh đất thực tế. Vì theo bà C1 cũng ác định là ranh đất giữa hai bên trước đây là hàng ương r ng cây cao điều này cũng phù hợp với lời trình bày của bà C, ông V, ông H1, bà H và người làm chứng là ông Hiếu. Tuy nhiên, theo những người này thì hi bà C xây nhà thì còn cách ra hàng rào ương r ng (ranh) hoảng vài tấc để bắt giàn giáo và m cửa sổ chứ h ng phải như bà C1 trình bày là nhổ hàng ương r ng lấn qua đất của ng N. Do đó ranh đất theo bà C1 ác nhận là chưa phù hợp với hiện trạng sử dụng đất nên h ng có căn cứ chấp nhận.

[4] Tại phiên t a phúc thẩm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà C1 đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà C1 sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố SĐ là là chưa có căn cứ nên không chấp nhận như đã nhận định trên.

[5] Từ những nhận định trên, x t thấy T a án cấp sơ thẩm ác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa bà C và ông N là đường thẳng nối từ mốc 1 4a đến mốc 8 là phù hợp với hiện trạng sử dụng đất nên giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2018/DS-ST ngày 06/3/2018 của T a án nhân dân thành phố SĐ. Tuy nhiện, phần Quyết định của bản án dân sự sơ thẩm đã tuyên chưa rõ ràng cần điều ch nh lại cách tuyên án cho phù hợp để dễ thi hành án.

[6] Đại diện Viện iểm sát đề nghị Hội đ ng t ử đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà C1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2018/DS-ST ngày 06/3/2018 của T a án nhân dân thành phố SĐ là có căn cứ nên chấp nhận.

[7] Do yêu cầu háng cáo của bà C1 không được chấp nhận nên bà C1 phải chịu tiền án phí phúc thẩm theo hoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

ì các lẽ trên;

QUY T Đ NH:

Căn cứ hoản 1 Điều 308 và hoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Tuyên Xử:

1. Không chấp yêu cầu háng cáo của bà Trần Thị Thu C1.

2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2018/DS-ST ngày 06/3/2018 của T a án nhân dân thành phố SĐ, t nh Đ ng Tháp.

3. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất thửa 277, 278 tờ bản đ 5 (theo hệ thống bản đ 299 nay là thửa 239 tờ bản đ 31 theo hệ thống bản đ địa chính chính quy) của bà Nguyễn Ngọc C với thửa 228 tờ bản đ 31 của hộ ng Trần Văn N là đường thẳng nối b i các mốc 1-4a-8, các mốc này đều có mốc gửi theo Sơ đ đo đạc ngày 25/4/2016 bổ sung ngày 26/02/2018 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai thành phố SĐ (có Sơ đ đo đạc èm theo).

Ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai bên được ác định từ không gian đến l ng đất theo chiều thẳng đứng các tài sản, vật kiến trúc có trên ranh giới đã được ác định hai bên phải có nghĩa vụ di dời, tháo d bằng mọi hình thức (kèm theo biên bản xem xét, thẩm định tại chổ ngày 26/7/2018 của Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp).

Các đương sự được đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng , điều ch nh lại diện tích đất theo ết quả đo đạc thực tế và được ác định ranh giới quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị Thu H bà Trần Thị Thu C1 bà Trần Thị Thu P bà Trần Thị Thu Đ bà Trần Thị Thu N2 bà Trần Thị Thu L1 bà Trần Thị Thu N1, anh Lê Trần Đắc V, ng Trần Ái V ng Trần Quốc H1 phải liên đới chịu 1.564.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Ngọc C h ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bà C được nhận lại 50.000 đ ng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 009670 ngày 12-12-2008 và 617.000 đ ng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 01230 ngày 14-11-2017 của Chi cục Thi dân sự thành phố SĐ.

5. Về chi phí tố tụng hác: Bà H, bà C1, bà P, bà Đ, bà N2, bà L1, bà N1, anh V, ông V, ông H1 phải liên đới chịu toàn bộ chi phí thẩm định đo đạc định giá là 3.173.000 đ ng. Bà C1 đã nộp 2.773.000 đ ng bà C đã nộp 400.000 đ ng. Buộc bà H, bà C1, bà P, bà Đ, bà N2, bà L1, bà N1, anh V, ông V, ông H1 phải liên đới trả lại cho bà C 400.000 đ ng.

6. Về án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị Thu C1 phải chịu 300.000 đ ng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được hấu trừ 300.000 đ ng tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo biên lai thu số 0001009 ngày 21-3-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố SĐ.

7. Trong trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án ho c bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 7a 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ