vanban.org

Bản án 168/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 14/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 05/7/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
------------------
Bản án số: 168/2017/HSST
Ngày: 14/11/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Huy Cận.

2. Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Thu Hà - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Năm - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 14/11/2017 tại Hội trường xét xử số 2 - Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 167/2017/HSST ngày 13 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/10/1988, tại Cẩm Phả, Quảng Ninh; Nơi ĐKNKTT, chỗ ở: Tổ 2, khu C, phường T, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn H - Sinh năm: 1950; Con bà: Vũ Thị L - Sinh năm: 1948; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 05/7/2017, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh – Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Việt A; Sinh năm : 1998 ; Trú tại: Tổ 2, khu C, phường T, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh- Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lê Văn T. bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 16 giờ ngày 05/7/2017, tại tổ 2, khu C, phường T, thành phố Cẩm Phả, Lê Văn T có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Chíu Sinh D và Bùi Đức M, với giá 300.000 đồng, để D, M đem đi sử dụng, thì bị Công an bắt giữ. Vật chứng thu giữ của D 01 (một) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, 01 (một) điện thoại di động Nokia.

Tại bản kết luận giám định số 450/GĐMT ngày 07/7/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu của Chíu Sinh D là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,14g (không phẩy mười bốn gam).

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả ra Lệnh bắt, khám xét khẩn cấp đối với Lê Văn T. Thu giữ 02 (hai) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, 01 điện thoại di động Iphone; 01 điện thoại di động Nokia; 2.400.000 đồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14U1 – 279.50.

Tại bản kết luận giám định số 451/GĐMT ngày 07/7/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon thu của Lê Văn T là chất ma túy, loại Methamphetamine, tổng trọng lượng 0,41g (không phẩy bốn mốt gam). Hoàn lại 0,25g (không phẩy hai lăm gam).

Tại bản cáo trạng số: 173/KSĐT - HS ngày 13/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tiếp tục đưa ra các chứng cứ chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” như nội dung bản cáo trạng, đề nghị áp dụng khoản 1 điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 24 (hai mươi tư) đến 30 (ba mươi) tháng tù, và xử lý vật chứng.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Chiều ngày 05/7/2017, Lê Văn T. gọi điện thoại hỏi mua của N (không rõ lai lịch) 01 túi ma túy với giá 500.000 đồng và hẹn mua bán tại khu vực gần ngõ suối khoáng, phường K, thành phố Cẩm Phả. Sau khi mua được ma túy, T đem về chia thành 03 túi ma túy nhỏ, mục đích để sử dụng, nếu có người hỏi mua sẽ bán. Khoảng 15 giờ ngày 05/7/2017, Chíu Sinh D gọi điện cho Lê Văn T hỏi mua 01 túi ma túy với giá 300.000 đồng. T đồng ý và hẹn D đến cuối đường Lâm Nghiệp, phường K. Sau đó, T điều khiển xe mô tô Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14U1 – 279.50 đến điểm hẹn. Khi đến, T thấy D đi cùng với Bùi Đức M và bảo D đi theo T vào trong ngõ gần trường Lương Thế Vinh rồi dừng lại. Xong, D và M mỗi người góp 200.000 đồng, D cầm tiền đưa T và T đưa lại D 01 túi ma túy cùng 100.000 đồng là tiền thừa rồi đi về, còn D và M dùng 100.000 đồng còn thừa mua mỗi người 01 thẻ điện thoại 50.000 đồng. Đây là lần đầu tiên D và M góp tiền mua ma túy của T. Đến tối ngày 05/7/2017, T cầm theo 02 túi ma túy đi đến nhà nghỉ Đại Dương ở phường K để sử dụng, thì bị Công an bắt giữ.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Việt A, thể hiện: Lê Văn T có mượn xe mô tô Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14U1 – 279.50 của A, nhưng không nói cho A biết T dùng để đi mua bán ma túy. A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng anh Chíu Sinh D, anh Nguyễn Hữu M, anh Phạm Đình T, biên bản về việc bắt người, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ. Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 194 - Bộ luật hình sự.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự quản lý của nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương, bị cáo là người có hiểu biết về pháp luật và tác hại của ma tuý nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém dẫn bị cáo vào con đường phạm tội, hành vi bị cáo thực hiện đã tiếp tay cho các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý, là cầu nối làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, nên cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên cũng xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Lê Văn T xuất trình đơn đề nghị với nội dung ông Lê Văn H – bố đẻ bị cáo là em trai liệt sĩ, đây không được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Ngoài ra bị cáo còn xuất trình Kỉ niệm chương của Ban chỉ huy sư đoàn bộ binh 2 – Quân khu 5 chứng nhận ông Lê Văn H đã có thành tích đóng góp trong chiến đấu chống Mỹ cứu nước. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Tuấn theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại Khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự thì còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 451/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ, Model: 105, số IMEI: 357895/05/752036/5, kèm 01 sim, 01 pin là điện thoại T liên lạc với N để mua ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, Model: A1530, FCC ID: BCG – E2643A IC: 579C – E2643B IMEI: 351983066323652, kèm 01 sim là điện thoại T liên lạc bán ma túy cho D là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước; tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam gồm có: 300.000đ là tiền thu lời bất chính từ việc bán ma túy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước; 2.100.000đ là tài sản của bị cáo cần trả lại.

Đối với Chíu Sinh D có hành vi mua ma túy để sử dụng, nhưng trọng lượng ma túy chưa đủ xử lý hình sự. Công an thành phố Cẩm Phả đã ra quyết định xử phạt hành chính.

Đối với Bùi Đức M hiện đã chết nên không đề cập xử lý.

Đối tượng N là người bán ma túy cho T, không có địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở làm rõ.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lê Văn T để sử dụng, nhưng trọng lượng ma túy chưa đủ xử lý hình sự. Công an thành phố Cẩm Phả đã ra quyết định xử phạt hành chính.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14U1 – 279.50. Quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của Lê Việt A và A không biết T sử dụng xe đi bán ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả đã trả lại chiếc xe trên cho A.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 05/7/2017.

Áp dụng: Điểm a, b, c Khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 451/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định; Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng); Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ, Model: 105, số IMEI: 357895/05/752036/5, kèm 01 sim, 01 pin; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, Model: A1530, FCC ID: BCG – E2643A IC: 579C – E2643B IMEI: 351983066323652, kèm 01 sim; Trả lại cho bị cáo T 2.100.000đ (Hai triệu một trăm nghìn đồng) (theo biên bản giao vật chứng số 14/BB - THA ngày 17 tháng 10 năm 2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).

Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 99; Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ