vanban.org

Bản án 168/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị H và anh Vũ Văn H1.

Giao con chung là cháu Vũ Việt Tùng, sinh ngày 31/10/2009 cho chị Đặng Thị H nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh Vũ Văn H1 không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị H và được quyền đi lại chăm sóc con, nhưng không được lạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị H- Vũ Văn H1"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị H và anh Vũ Văn H1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168 /2017/HNGĐ-ST
Ngày 15-8-2017
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Phượng;

Ông Nguyễn Thành Thái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thắm- Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Ngày 15 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2017/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1989.

Sinh quán: Xóm 8, xã VN, huyện PT, Thành phố Hà Nội

Trú quán: Xóm 6B, xã HT, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Xóm 6B, xã HT, huyện HH, tỉnh Nam Định.

Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại: Đội 18, Phân trại 3, Trại giam TP-huyện NC, tỉnh Thanh Hóa.

(Tại phiên tòa có mặt chị H, anh H1 xin được xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai đề ngày 18/5/2017, nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H đăng ký kết hôn với anh Vũ Văn H1 vào ngày 04/9/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc tại nhà bố mẹ đẻ anh H1. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng đến tháng 6/2010 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do anh H1 thường xuyên chơi bời, cờ bạc, không quan tâm đến cuộc sống gia đình, trong cuộc sống vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, cãi chửi nhau. Mặc dù chị và hai bên gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh H1 vẫn không sửa đổi. Anh H1 đã nhiều lần vi phạm pháp luật và bị nhiều Tòa án xử phạt tù giam. Đến tháng 05/2016, anh H1 tiếp tục vi phạm pháp luật và bị Tòa án xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện nay, anh H1 đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Thanh Phong - Bộ Công an thuộc địa bàn huyện Nông Cống - tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm và trách nhiệm đối với nhau từ tháng 5 năm 2016 đến nay. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H1 không còn nên chị đã làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Vũ Việt Tùng, sinh ngày 31/10/2009, hiện nay cháu đang ở cùng chị H. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị.

- Về tài sản chung và công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 06/6/2017 và ngày 24/7/2017, anh H1 đã có lời khai phù hợp với lời khai của chị H về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn như chị H trình bày. Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh cũng nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh H1 xác nhận vợ chồng có 01 con chung như chị H trình bày. Khi ly hôn, anh H1 có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung. Trong thời gian anh chấp hành án, anh đề nghị giao con chung cho bố mẹ đẻ anh nuôi dưỡng. Anh H1 không đưa ra ý kiến về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ: Vợ chồng không có tài sản gì chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do điều kiện anh H1 đang chấp hành án, không thể về Tòa án giải quyết ly hôn được nên anh H1 xin được vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay chị Đặng Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Đặng Thị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình của chị và anh Vũ Văn H1. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Do bị đơn anh Vũ Văn H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh H1 là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Đặng Thị H và anh Vũ Văn H1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 04/9/2008. Do anh H1 chơi bời cờ bạc, không quan tâm đến cuộc sống gia đình nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Chị H và gia đình đã khuyên bảo anh H1 nhiều lần nhưng H1 không sửa đổi. Mặt khác, anh H1 còn nhiều lần vi phạm pháp luật, bị nhiều Tòa án xét xử phạt tù giam, đến tháng 5/2016, anh H1 tiếp tục bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nên tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Vợ chồng đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm và trách nhiệm đối với nhau từ tháng 5 năm 2016 đến nay. Do đó, chị H đề nghị xin được ly hôn, anh H1 nhất trí.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh H1 đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị H, anh H1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Đặng Thị H và anh Vũ Văn H1 có 01 con chung là cháu Vũ Việt Tùng, sinh ngày 31/10/2009, hiện đang do chị H nuôi dưỡng. Khi ly hôn nguyện vọng của chị H xin được nuôi con và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh H1 cũng có nguyện vọng nuôi con chung và đề nghị trong quá trình anh chấp hành hình phạt tù thì con chung giao cho bố mẹ đẻ anh nuôi dưỡng.

Xét nguyện vọng và điều kiện nuôi dưỡng con chung của chị H, anh H1 thì thấy: Cháu Vũ Việt Tùng hiện đang do chị H nuôi dưỡng, trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Tùng có nguyện vọng xin được ở với chị H, anh H1 hiện đang phải chấp hành hình phạt tù nên không có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cháu Tùng. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thuộc về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nên nguyện vọng của anh H1 giao con chung là cháu Tùng cho bố mẹ đẻ anh H1 nuôi dưỡng là không phù hợp. Như vậy, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của con chung nên tiếp tục giao cháu Vũ Việt Tùng cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Do chị H không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị nên về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ: Chị H và anh H1 xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Đặng Thị H phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị H và anh Vũ Văn H1.

2. Giao con chung là cháu Vũ Việt Tùng, sinh ngày 31/10/2009 cho chị Đặng Thị H nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh Vũ Văn H1 không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị H và được quyền đi lại chăm sóc con, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về án phí: Chị Đặng Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số BB/2012/08963 ngày 18 tháng 5 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị Đặng Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ