- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Tuyết V "Ly hôn" Hồ Minh Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận theo đơn yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Tuyết V đối với ông Hồ Minh Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án: 167/2018/HNGĐ-ST Ngày: 10-8-2018 V/v “ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chi Lin
2. Ông Nguyễn Hồng Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 10 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 724/2018/TLST-HNGĐ ngày 27/6/2018 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30/6/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Tuyết V, sinh năm 1984, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Hồ Minh Q, sinh năm 1978, xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Cùng trú ấp X, xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 26/6/2018 và tại phiên Tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Tuyết V trình bày tóm tắt như sau:
Bà và ông Hồ Minh Q là vợ chồng, sống với nhau năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Ông Q không lo làm ăn và không quan tâm đến vợ con. Cuộc sống không mang lại hạnh phúc, bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông Q vẫn không thay đổi tính tình. Bà và ông Q đã ly thân nhau từ năm 2017 cho đến nay. Nay thấy tình cảm không còn và cũng không thể hàn gắn nên bà xin ly hôn với ông Hồ Minh Q.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Hồ Minh Q1, sinh ngày 14/5/2002 và Hồ Ngọc Q2, sinh ngày 18/4/2007, hiện nay ông Q đang trực tiếp nuôi cháu Hồ Minh Q1 còn bà nuôi cháu Hồ Ngọc Q2, nếu như ly hôn bà đồng ý giao cháu Minh Q1 cho ông Q nuôi dưỡng còn bà nuôi cháu Hồ Ngọc Q2, bà không yêu cầu cấp dưỡng và bà cũng không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Tuyết V trình bày, tài sản chung bà và ông Q chung sống với nhau không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hồ Minh Q có đơn xin vắng mặt nhưng theo bản tự khai ngày 7/8/2018 trình bày như sau: Ông xác nhận lời trình bày của bà Huỳnh Thị Tuyết V về thời gian, điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung như bà V trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng cũng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với những chuyện nhỏ trong gia đình, bà V tự ý dẫn các con về gia đình bên bà V để sống ông có đến rước bà nhiều lần để về tiếp tục sống chung nhưng bà không chịu về, ông và bà đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay.
Nay bà V yêu cầu xin ly hôn ông không đồng ý, xin hàn gắn lại tình cảm vợ chồng để cùng lo cho con chung.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Hồ Minh Q1, sinh ngày 14/5/2002 và Hồ Ngọc Q2, sinh ngày 18/4/2007. Nếu như ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Hồ Minh Q1 hiện nay đang sống với ông, ông đồng ý để cho bà V tiếp tục nuôi cháu Hồ Ngọc Q2. Ông không cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu bà V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Ông và bà V sống chung không có tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên Toà, trên cơ sở trình bày của các đương sự, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng: Quan hệ pháp luật, bà Huỳnh Thị Tuyết V yêu cầu xin được ly hôn với ông Hồ Minh Q, xét thấy đây là vụ án hôn nhân và gia đình, thẩm quyền căn cứ vào Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa. Theo đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt của ông Hồ Minh Q vào ngày 7/8/2018 nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử Quyết định xét xử vắng mặt đối với ông Hồ Minh Q.
. Về hôn nhân: Bà V và ông Q cưới nhau vào năm 2001, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 29/3/2004 (số 29/2004) nên quan hệ hôn nhân của bà V và ông Q được pháp luật thừa nhận là hợp pháp từ thời điểm đăng ký kết hôn.
. Bà V cho rằng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do ông Q không quan tâm chăm sóc vợ con nên mới ly hôn, đối với ông Q thừa nhận giữa ông và bà V có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ và ông không đồng ý ly hôn với bà V. Xét thấy về mâu thuẫn tình cảm của bà V và ông Q, ông Q cũng đã thừa nhận giữa ông và bà V có mâu thuẫn ngoài ra bà V cho rằng giữa bà và ông Q đã ly thân nhau từ năm 2017 cho đến nay, trong thời gian ly thân ông có đến rước bà về để tiếp tục chung sống nhưng bà V không về, chứng tỏ rằng bà V không còn yêu thương và quang tâm đối với ông Q, quan hệ hôn nhân giữa hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu xin ly hôn của bà V đối với ông Hồ Minh Q.
Đối với ông Q, ông xin được đoàn tụ không muốn ly hôn nhưng ông Q không đưa ra biện pháp đoàn tụ cùng với bà V để hàn gắn tình cảm vợ chồng mặc dù bà V đã cho ông rất nhiều cơ hội cũng như ông không một lời xin lỗi bà V để được bà Vân chấp nhận bỏ qua mâu thuẩn giữa bà và ông Q. Mặt khác, tại tòa bà V vẫn cương quyết xin được ly hôn với ông Q. Nên việc yêu cầu đoàn tụ của ông Q chưa đủ để thiết phục. Hội đồng xét xử không thể chấp nhận theo yêu cầu xin được đoàn tụ của ông Q.
Về quyền nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà V và ông Q thống nhất với nhau về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỉa thuận của bà V Và ông Q về quyền nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Tuyết V và ông Hồ Minh Q thống nhất xác định tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với nợ chung: Bà Huỳnh Thị Tuyết V và ông Hồ Minh Q xác định ông bà không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Huỳnh Thị Tuyết V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 35, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 và Điều 86 Luật hôn nhân gia đình; Điều 6 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận theo đơn yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Tuyết V đối với ông Hồ Minh Q.
Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Tuyết V được ly hôn với ông Hồ Minh Q.
Về quyền nuôi con chung: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự.
Bà Huỳnh Thị Tuyết V được quyền trực tiếp nuôi cháu Hồ Ngọc Q2, sinh ngày18/4/2017. Ông Hồ Minh Q được trực tiếp nuôi cháu Hồ Minh Q1, sinh ngày, sinh ngày 14/5/2002. Các bên không cấp dưỡng nuôi con chung.
Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí: Bà Huỳnh Thị Tuyết V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, sung công quỹ Nhà nước, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí của bà V đã nộp tại biên lai thu số 0002698 ngày 26/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành.
Án sơ thẩm công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An - VKSND huyện Đức Hòa - Chi cục Thi hành án. - UBND xã Y - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Văn Tài |