- Tranh chấp gì? "Nguyễn Thành Được - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyên Vũ
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoài Đức Huệ
2. Bà Trần Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 05 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai với hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, gồm Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án. Điểm cầu thành phần tại Phân Trại tạm giam huyện N – Trại tạm giam Công an tỉnh Đ có bị cáo Nguyễn Thành Đ, trong vụ án hình sự thụ lý số: 81/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 03 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 49/TB-TA ngày 28/4/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1991, tại tỉnh Đồng NaiHoồ Chí NMinhHo62 Chí Minh; Nơi thường trú: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1969 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1970; Bị cáo chưa có vợ: Bùi Thị O (sinh năm 1989 đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2008, con; Tiền án; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt giữ ngày 25/12/2024, sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành Đ là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/12/2024, Được đi xe ôm từ nhà ở ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai đến khu vực vòng xoay M, phường C, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người đàn ông tên thường gọi là “Sơ” (không rõ nhân thân) mua 200.000 đồng ma túy đá để sử dụng cá nhân. Được mang ma túy về nhà, đến khoảng 15 giờ cùng ngày Được mang số ma túy đến khu đất vắng người để sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực đường đất thuộc ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Công an huyện N tuần tra, kiểm tra trên người Nguyễn Thành Đ phát hiện trong túi quần sau bên phải có 01 (một) túi nylon được hàn kín, kích thước khoảng 3cm x 3cm bên trong có các hạt tinh thể rắn màu trắng nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ. Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon hàn kín, kích thước khoảng 3cm x 3cm bên trong có các hạt tinh thể rắn màu trắng.
Tại Kết luận giám định số 2712/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định: 01 gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng được niêm phong có các chữ ký của Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc Đ1 và dấu tròn đỏ của công an xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai gửi đến giám định là ma túy: có khối lượng 1,3564gam, loại: Methamphetamine; Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1,2885gam.
Tại bản cáo trạng số: 91/CT.VKS-NT ngày 25/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 08 tháng tù.
* Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Toà tuyên: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định (được niêm phong số 2712/KL-KTHS ngày 31/12/2024 có dấu tròn màu đỏ Phòng K Công an tỉnh Đ) có ghi họ tên Phan Đình H1.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành Đ không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo Nguyễn Thành Đ (sinh năm 1991) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thừa nhận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/12/2024, Được đã có hành vi mua của một người tên S (không rõ lai lịch) ma túy với giá 200.000 đồng tại khu vực vòng xoay M, phường C, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày Được mang số ma túy đến khu vực đường đất thuộc ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Công an huyện N tuần tra, phát hiện trong túi quần sau bên phải trên người Được có 01 (một) túi nylon được hàn kín, kích thước khoảng 3cm x 3cm bên trong có các hạt tinh thể rắn màu trắng nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai nhân chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy lượng ma túy bị cáo Nguyễn Thành Đ tàng trữ theo Kết luận giám định số 2712/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ có khối lượng: 1,3564gam, loại: Methamphetamine (khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam) và hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thành Đ đã được thực hiện xong.
Nên có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thành Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 16/11/2012, bị UBND huyện N đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng tại Trung tâm G về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 25/12/2014 chấp hành xong
Tội phạm do bị cáo Nguyễn Thành Đ thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên biết rõ việc tàng trữ để sử dụng chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo vẫn thực hiện. Do đó cần xét xử nghiêm, cần thiết áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của chính sách pháp luật hình sự.
Đối với người đàn ông tên S đã bán ma túy cho Nguyễn Thành Đ chưa rõ lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.
Xét lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng: 01 gói ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng: 1,2885gam gam được niêm phong số: 2712/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, Nguyễn Thành Đ đã tàng trữ trái phép, cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu 01 gói ma túy loại Methamphetamine có khối lượng: 1,2885gam (được niêm phong số: 2712/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ) tiêu hủy.
Theo biên bàn giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TA tỉnh - VKS, THA, CA - Bị cáo; - Lưu HS, VP | (Đã ký) Trần Nguyên Vũ |