vanban.org

Bản án 167/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 80.000.000đ (T11 mươi triệu đồng) Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "thiệu đánh bạc - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNGĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2026/HS-ST
Ngày 11 – 6 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vui

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Du

Bà Nguyễn Thị Kim Huế

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Phượng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Ka Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Lâm Đồng, địa chỉ: Số A L, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hình sự thụ lý số 110/2026/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2026/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 5 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2026/HSST-QĐ ngày 26 tháng 5 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1968, tại tỉnh Nghệ An; Số CCCD: 040068030000 cấp nhày 09/6/2025; nơi cấp: Bộ C1; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số B T, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần L (đã chết) và bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1941; hiện trú tại Thôn F, xã M, tỉnh Nghệ An; gia đình có 08 chị em, bị cáo là con thứ 05 trong gia đình; vợ Cao Thị Hồng N, sinh năm 1969, con: 03 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2007;

Tiền án: Ngày 09/3/2021 bị Tòa án nhân dân Thành phố Bảo Lộc (cũ) xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội Đánh bạc, phạt bổ sung 15.000.000 đồng theo Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2021/HS ST ngày 09/3/2021. Bị cáo chấp hành xong ngày 19/02/2025, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không

Nhân thân:

+ Tại Bản án số 11/1989/HSST ngày 28/02/1989 của Tòa án nhân dân Huyện Diễn Châu, N tuyên phạt bị cáo 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản;

+ Tại Bản án số 478/2003/HSST ngày 20/11/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tuyên phạt bị cáo 05 năm tù về Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại Phường B B từ ngày 23/01/2026 đến nay; Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn Anh T2, sinh năm 1972; địa chỉ: Số H Đ, Phường A B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

2. Đỗ Xuân T3, sinh năm 1961; địa chỉ: Số A L, Phường A B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

3. Nguyễn Đăng K, sinh năm 1969; địa chỉ: Số B T, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt

4. Lương Quốc T4, sinh năm 1974; địa chỉ: Số B P, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

5. Nguyễn Thành T7, sinh năm 1966; địa chỉ: Số H Q, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

6. Đỗ Minh D, sinh năm 1988; địa chỉ: Số D T, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt

7. Nguyễn Thị T5, sinh năm 1975; địa chỉ: Số B P, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

8. Cao Thị Hồng N, sinh năm 1969; địa chỉ: Số E L, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thị Thùy H, sinh năm 1980; địa chỉ: Số B P, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

2. Nguyễn Công L1, sinh năm 1964; địa chỉ: Số B B, Phường A B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

3. Nguyễn Văn T6, sinh năm 1967; địa chỉ: Số A Y, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

4. Lê Văn Đ, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A P, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 12 giờ 30 phút ngày 20/7/2025 tại 5 L, Phường B, tỉnh Lâm Đồng, Công an P phát hiện và bắt quả tang Trần Văn Thiệu Nguyễn Thành T7, Đỗ Minh D và Nguyễn Thị T5 đang chơi đánh bạc dưới hình thức đánh Binh xập xám được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 3.450.000 đồng và nhóm Nguyễn Anh T2, Đỗ Xuân T3, Nguyễn Đăng K, Lương Quốc T4 đang chơi đánh bạc dưới hình thức đánh Phỏm được thua bằng tiền, với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 2.500.000 đồng. Trong đó Trần Văn T là người đã bị kết án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích.

Quá trình điều tra, xác định được như sau: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/07/2025 khi Trần Văn T đang ở địa chỉ số E, đường L, phường B B, tỉnh Lâm Đồng thì có Nguyễn Thành T7, Đỗ Minh D và Nguyễn Thị T5 đến chơi và ăn nhậu. Sau đó cả nhóm rủ nhau cùng chơi đánh bài được thua bằng tiền với hình thức đánh bài “binh xập xám”, mục đích góp tiền ăn nhậu cho những lần sau. Cách thức chơi như sau: Những người chơi sử dụng bài tây 52 lá để chơi. Mỗi ván chơi sẽ chia đều bài cho 04 tụ, mỗi tụ là 13 lá bài. Sau đó từng người sẽ sắp xếp bài ở tụ của mình theo từng C với thứ tự Chi đầu 05 lá, C giữa 05 lá và C cuối 03 lá theo nguyên lý: mậu thầu, đôi (hai lá bài cùng số), thú (hai đôi), sám chi (ba lá bài đồng số), sảnh (năm lá bài theo một chuỗi số liên tiếp), thùng (năm lá bài cùng cùng màu, đồng chất), cù lũ (một bộ 03 lá đồng số và một đôi), tứ quý (bốn lá đồng số), thùng phá sảnh (năm lá bài cùng màu, đồng chất và cùng một chuỗi số). Khi xếp xong những người chơi sẽ tiến hành cùng lật bài và so sánh bài với nhau theo từng chi tương ứng. Với mỗi một Chi thắng đối với từng người sẽ thắng được 10.000 đồng, nếu ai đó bị thua cả ba Chi hoặc bị binh lùng (là việc sắp xếp bài nhưng để bài của C sau mạnh hơn bài của C trước) thì sẽ thua 30.000 đồng. Khi có ai có mậu binh đặc biệt (gồm Cù lũ chỉ 2, Tứ quý, Tứ quý chỉ 2, T8 phá sảnh, thùng phá sảnh chi 2, sám chỉ cuối) thì những người chơi thống nhất ngoài tiền thua của từng chi thì người thắng sẽ được thêm 20.000 đồng đối với mỗi người chơi còn lại. Khi có mậu binh tới trắng (gồm ba cái sảnh, ba cái thùng, lục phế bôn, sảnh rồng) thì sẽ thắng mỗi nhà 50.000 đồng.

Trong quá trình T chơi bài cùng cả nhóm thì có thêm 07 người là Nguyễn Anh T2, Đỗ Xuân T3, Nguyễn Đăng K, Lương Quốc T9 và anh Nguyễn Văn T6, chị Nguyễn Thị Thùy H, anh Lê Văn Đ, anh Nguyễn Công L1, anh Lương Quốc T4 có ghé vào xem những người này chơi bài. Sau đó, Nguyễn Anh T2, Đỗ Xuân T3, Nguyễn Đăng K, Lương Quốc T4 ngồi xuống tại khu vực bàn inox trong phòng bếp gần chỗ T đang chơi bài binh xập xám. Nhóm của T2 rủ nhau chơi bài phỏm được thua bằng tiền. Cách thức chơi như sau: Các cách liên kết bài, “Phỏm” là từ 3 quân bài trở lên có cùng số, cùng “chất” và liên tiếp với nhau theo thứ tự hoặc có ba đến bốn quân bài cùng số; “Cháy” là một người có những quân bài không liên kết với nhau để tạo ra “Phỏm”, “Ù” là một người chơi có 03 “Phỏm” và không dư quân bài nào, về cách tính lượt bài: Khi chia bài với một bộ bài tiêu chuẩn (52 lá) thì được người nào chia bài sẽ có 10 quân bài còn những người còn lại sẽ là 09 quân bài, sau khi chia bài xong những quân bài còn dư sẽ được đặt úp ở giữa bàn. Bắt đầu chơi, một người thực hiện việc ra bài đầu tiên, người được quyền ra một quân bài bất kỳ do người đó tự chọn. Lần lượt theo chiều ngược chiều kim đồng hồ (chiều tay phải), các người chơi khác có quyền bốc bài còn dư trên bàn hoặc lấy quân bài của người bên trái mình vừa đánh ra nếu tạo ra “Phỏm", trong quá trình chơi người chơi nào báo “Ù” trước thì người đó thắng hoặc sau khi mỗi người chơi đánh đủ 04 quân bài thì nếu người chơi nào báo “Ù” thì người đó là người thắng và những người còn lại là thua hoặc nếu không có người nào báo “Ù” thì các người chơi sẽ tính điểm với nhau theo từng quân bài A đến K tương ứng với từ số 1 đến số A, về nhất: là người có điểm thấp nhất, về nhì: là người có điểm thấp thứ hai, về ba: là người có điểm thấp thứ ba, người còn lại là về cuối. Đây là kiểu chơi kết hợp các quân bài có liên kết với nhau, nghĩa là ai kết hợp bài có 03 “Phỏm” hoặc điểm thấp nhất là người thắng.

Nếu ván bài có người nào “Ù” thì sẽ được những người chơi còn lại đưa 40.000đ; nếu ván bài không có người chơi nào “Ù” và có một người “Cháy” thì người “Cháy” phải đưa cho người thấp điểm nhất là 40.000đ, những người chơi còn lại tính điểm theo thể thức như trên để tìm người thấp điểm thứ hai và đưa cho người thấp điểm nhất là 10.000 đồng, người thấp điểm thứ 3 đưa cho người thấp điểm nhất là 20.000 đ; nếu ván bài không có người chơi nào “Ù” và “Cháy” thì những chơi sẽ tính điểm để tìm ra người có điểm thấp nhất và những người chơi có điểm thấp kế tiếp sẽ đưa cho người thấp điểm nhất lần lượt là 10.000₫, 20.000đ, 30.000đ, khi bắt đầu ván mới người “Ù” hoặc người thấp điểm nhất của ván trước sẽ là người chia bài cho ván mới.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang cả hai nhóm đang chơi đánh bài như trên. Quá trình điều tra xác định Trần Văn T cùng Nguyễn Thành T7, Đỗ Minh D và Nguyễn Thị T5 đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi bài “Binh xập xám” với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 3.450.000 đồng. Còn nhóm của Nguyễn Anh T2, Đỗ Xuân T3, Nguyễn Đăng K, Lương Quốc T4 chơi bài được thua bằng tiền với hình thức chơi “Phỏm” trong đó số tiền dùng để đánh bạc của những người này là 2.500.000 đồng.

Trần Văn T trước đó đã bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Lâm Đồng) tuyên phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, phạt bổ sung số tiền 15.000.000 đồng về tội Đánh bạc. Đã chấp hành xong thời gian thử thách vào ngày 19/02/2025. Đến nay chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội mới. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L đã căn cứ vào tiền án chưa được xóa án tích của T để khởi tố do đó không tính là tái phạm.

Quá trình điều tra, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 173/CT-VKSKV4 ngày 10/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Về vật chứng: cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L thu giữ số tiền 200.000 đồng đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước; đối với 02 bộ bài tây (52 lá) đã qua sử dụng; 01 bát sứ màu trắng và 03 con xúc xắc đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh L, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng, của Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Nguyễn Anh T2, Đỗ Xuân T3, Nguyễn Đăng K, Lương Quốc T4, Đỗ Thành T10, Đỗ Minh D, Nguyễn Thị T5, Cao Thị Hồng N vắng mặt và người làm chứng Nguyễn Thị Thùy H, Nguyễn Công L1, Nguyễn Văn T6, Lê Văn Đồng đều vắng mặt nên căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về thẩm quyền: Hành vi của bị cáo Trần Văn T đã thực hiện trên địa phận Phường B B, tỉnh Lâm Đồng được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L điều tra và Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng truy tố đối với bị cáo Trần Văn T về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng theo quy định Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi của bị cáo:

Qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận: bị cáo là người đã bị kết án về hành vi đánh bạc, chưa được xóa án tích; Vào ngày 20/07/2025 tại căn nhà số E đường L, phường B B, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Trần Văn T tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh bài binh xập xám cùng với Đỗ Minh D, Nguyễn Thành T7, Nguyễn Thị T5 với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 3.450.000 đồng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Số tiền đánh bạc nêu trên chưa đủ định lượng nhưng tại Bản án số 16/2021/HS-ST ngày 09/3/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân Thành phố Bảo Lộc (cũ) xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, phạt bổ sung số tiền 15.000.000 đồng về tội Đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong thời gian thử thách vào ngày 19/02/2025. Đến nay chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội mới về tội “Đánh bạc” nên bị cáo bị điều tra và truy tố là đúng quy định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng; phù hợp với biên bản làm việc ghi nhận vụ việc đánh bạc xảy ra ngày 20/7/2025, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 20/7/2025, biên bản khám nghiệm hiện trường, toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong vụ án và cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng đã truy tố đối với bị cáo.

Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng số 173/CT-VKSKV4 ngày 10/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng đã truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo đã bị Tòa án nhân dân Thành phố Bảo Lộc (cũ) xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, phạt bổ sung số tiền 15.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích nhưng không tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục hành vi đánh bạc nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi bị cáo gây ra.

Mặc dù bị cáo là người đang có tiền án về tội đánh bạc, tuy nhiên đã xác định tiền án này để tính vào cấu thành cơ bản của tội phạm (do số tiền dưới định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự). Do đó không cần thiết xử phạt tù giam mà áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo cũng đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như sau: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố vợ và mẹ vợ được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng ba. Vì vậy, áp dụng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Tại Bản án số 16/2021/HS-ST ngày 09/3/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân Thành phố Bảo Lộc (cũ) xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, phạt bổ sung số tiền 15.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Ngày 20/7/2025 bị cáo tham gia đánh bạc, chưa được xóa án tích là tình tiết cấu thành tội phạm để định khung hình phạt nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động màu đen, hiệu IphoneX của Nguyễn Anh T2; 01 điện thoại di động màu bạc, nhãn hiệu Xiaomi của Nguyễn Thị T5; 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu Samsung loại Galaxy của Nguyễn Thành T7 do không liên quan đến hành vi phạm tội Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ nên không xem xét, xử lý.

Đối với số tiền 5.750.000 tại thời điểm kiểm tra thu của Nguyễn Anh T2, Đỗ Xuân T3, Nguyễn Đăng K, Nguyễn Thành T7, Đỗ Minh D, Nguyễn Thị T5 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L đã tịch thu nộp ngân sách nhà nước trong các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ nên không xem xét, xử lý.

Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ số tiền 200.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; đối với 02 bộ bài tây (52 lá) đã qua sử dụng; 01 bát sứ màu trắng và 03 con xúc xắc là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với căn nhà số E đường L, phường B B, tỉnh Lâm Đồng quá trình điều tra xác định là nhà của bà Cao Thị Hồng N mua thông qua hình thức giấy viết tay, chưa sang tên, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn nhà trên do bà N quản lý và sử dụng. Quá trình T cùng những người khác đến nhà bà N chơi bài được thua bằng tiền thì chị N không biết, chị N cũng không có hành vi gì giúp sức cho những người này trong việc đánh bạc. Do đó, không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà N về hành vi này.

Đối với Nguyễn Thành T7, Đỗ Minh D, Nguyễn Thị T5 đã có hành vi cùng Trần Văn T tham gia đánh bạc được thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 3.450.000 đồng. Tuy nhiên, số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Các đối tượng này có tiền án về tội Đánh bạc nhưng đã được xóa án tích nên lần phạm tội này chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L đã chuyển hồ sơ đến Công an phường P để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người nêu trên về hành vi “Đánh bạc” là có căn cứ và đúng pháp luật.

Đối với Lương Quốc T4, Nguyễn Đăng K, Nguyễn Anh T2, Đỗ Xuân T3 tham gia đánh bạc được thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 2.500.000 đồng. Thời điểm thực hiện hành vi các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự nên lần phạm tội này chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L đã chuyển hồ sơ đến Công an phường P để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người nêu trên về hành vi “Đánh bạc" là có căn cứ và đúng pháp luật

Đối với Hoàng Quang M và Nguyễn Thị A là những người có mặt để xem bị cáo Trần Văn T và các đối tượng khác đánh bạc nhưng không tham gia đánh bạc nên không xem xét trách nhiệm hình sự là đúng quy định pháp luật.

Đối với việc bị cáo Trần Văn T sử dụng nhà của vợ chồng bị cáo để cho bị cáo cùng Nguyễn Thành T7, Đỗ Minh D, Nguyễn Thị T5, Lương Quốc T4, Nguyễn Đăng K, Nguyễn Anh T2, Đỗ Xuân T3 đánh bạc. Nhưng việc đánh bạc là tự phát, bị cáo không rủ rê, lôi kéo và tổ chức cho các đối tượng trên tham gia đánh bạc và bị cáo cũng không sử dụng địa điểm nhà của mình cho các đối tượng khác đánh bạc nhằm mục đích thu lợi bất chính, T cùng tham gia đánh bạc để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự nên không có cơ sở xem xét, xử lý.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 35, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025;

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 80.000.000đ (T11 mươi triệu đồng)

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng

(Số tiền 200.000 đồng được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã chuyển vào số tài khoản 3949.0.1054515.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng mở tại Kho bạc nhà nước khu vực XVI theo giấy ủy nhiệm chi ngày 13 tháng 4 năm 2026);

- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây (52 lá) đã qua sử dụng; 01 bát sứ màu trắng, mặt đáy của bát có in logo “CK" Chuan Kuo® màu xanh lục; 03 viên xúc sắc, màu trắng, có sáu mặt từ 01 chấm đến 06 chấm, kích thước 01cm x 01cm x 01cm).

(Các vật chứng nêu trên đã được Công an tỉnh L bàn giao cho Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 – Lâm Đồng theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 14/4/2026).

3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ được kháng cáo phần có liên quan).

Cỡ chữ