- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Ch - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 167/2026/HS-ST Ngày: 14 - 8 - 2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Bá
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Nễ
Ông Nguyễn Văn Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn Huy – Thẩm tra viên, Toà án nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thuý Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026, Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1092/2026/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2026, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Ch, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1996. Tại: Thành phố Đà Nẵng Số CCCD: 049096009916, cấp ngày: 27/12/2021. Nơi cư trú: khối phố Trung Phú 2, phường Điện Bàn, thành phố Đà Nẵng; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Con ông Nguyễn Văn Ánh, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Liện, sinh năm 1969. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai. Bị cáo có vợ là Thái Hồng Luyến và có 01 con sinh năm 2025;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 26/7/2023, bị TAND thị xã Điện Bàn (cũ) áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng theo Quyết định số 14/2023/QĐ-TA; đã chấp hành xong vào ngày 01/7/2024;
Nhân thân:
- Ngày 25/7/2014, bị Công an huyện Điện Bàn (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 375.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong vào ngày 28/7/2014;
- Ngày 19/11/2015, bị Công an thị xã Điện Bàn (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. TDM140826.TL.QDBA.1994
Ngày 08/8/2017, bị TAND thị xã Điện Bàn (cũ) áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng theo Quyết định số 17/2017/QĐ-TA, đã chấp hành xong ngày 06/3/2018;
- Ngày 25/01/2019, bị TAND thị xã Điện Bàn (cũ) áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 21 tháng theo Quyết định số 04/2019/QĐ-TA, đã chấp hành xong vào ngày 06/12/2019
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/4/2026 đến nay. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Ch nằm trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 172/QĐ-UBND ngày 08/7/2024 của Chủ tịch UBND phường Điện Minh, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Điện Bàn, thành phố Đà Nẵng), thời hạn quản lý 02 năm, từ ngày 05/7/2024 đến ngày 05/7/2026.
Vào sáng ngày 02/4/2026, Công an phường Điện Bàn mời Nguyễn Văn Ch đến trụ sở để làm việc theo diện quản lý cư trú tại địa phương và tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu cho kết quả dương tích với ma túy loại Methamphetamine (ma tuý đá).
Qua điều tra xác định: vào khoảng thời gian trước tết Nguyên đán năm 2026, khi làm việc bốc vác hàng rau hành tại chợ đầu mối thuộc phường Hòa Cường, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Văn Ch có quen biết với người thanh niên tên Ke (không rõ lai lịch). Sau đó cả hai kết bạn qua ứng dụng mạng xã hội Zalo. Sau Tết nguyên đán cả hai đều nghỉ làm việc tại chợ đầu mối và không liên lạc gì với nhau. Vào ngày 14/02/2026, Nguyễn Văn Ch sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu xanh – đen, đăng nhập vào ứng dụng Zalo của Ch có tên tài khoản là “Thỏ” đăng ký bằng số điện thoại “0372894981" nhắn tin cho người thanh niên tên “Ke” có tên tài khoản là “abc” để nói chuyện với nhau, trong lúc nói chuyện thì Ch hỏi “Ke” có sử dụng ma túy đá không thì được “Ke” trả lời là có và hỏi Ch có chơi ma túy không để “Ke” tìm ma túy cho Ch sử dụng thì Ch đồng ý. Ch nhờ “Ke” mua giúp cái 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) có nghĩa là mua giúp 300.000 đồng ma túy. Sau đó, người thanh niên tên “Ke” hẹn Ch đến khu vực gần chung cư FPT thuộc phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng để nhận số ma túy trên. Sau khi mua được ma túy, Ch về phòng trọ của mình tại tầng 2 nhà số 85 Nguyễn Thế Kỷ, phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng sử dụng một mình hết số ma tuý này.
Vào chiều ngày 31/3/2026, Nguyễn Văn Ch tiếp tục sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu xanh – đen, đăng nhập vào tài khoản Zalo tên “Thỏ” của Ch rồi nhắn tin đến tài khoản Zalo “abc” cho “Ke” để mua ma túy. Người thanh niên tên “Ke” đồng ý và hẹn Ch đến khu vực gần chung cư FPT thuộc phường Ngũ Hành Sơn để giao dịch mua bán ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 31/03/2026, Ch đi xe TDM140826.TL.QDBA.1994 ôm đến khu vực chung cư trên thì gặp người tên “Ke”, Ch đưa cho người tên “Ke” số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), thì được người tên “Ke” chỉ về gói thuốc lá hiệu Craven ở dưới đất. Ch đi tới lấy gói thuốc lên xem thì thấy bên trong gói thuốc có chứa gói ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, Ch về phòng trọ của mình tại tầng 2 nhà số 85 Nguyễn Thế Kỷ, phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Thời điểm này phòng trọ không có ai, Ch đi vào bên trong phòng trọ, lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu trong phòng trọ ra, cho số ma túy vừa mua được vào nỏ thủy tinh, dùng bật lửa đốt nỏ thủy tinh sau đó hút được 05 (năm) hơi thì cất bộ dụng cụ cùng số ma túy đang còn trong nỏ thủy tinh trên vào phía sau cánh cửa tolet trong phòng trọ. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 01/04/2026, Ch dậy mở cửa cho vợ là Thái Hồng Luyến để đi bán rau hành ngoài chợ. Sau khi Luyến đi ra khỏi phòng trọ thì Ch tiếp tục lấy bộ dụng cụ ra và đốt lên sử dụng hết số ma túy còn lại bên trong, khi hút hết số ma túy trong nỏ thủy tinh thì Ch mang bộ dụng cụ trên cất giấu vào phía sau cánh cửa trong phòng toilet. Vào chiều ngày 02/04/2026, khi biết Cơ quan Công an mời làm việc, Ch mang bộ dụng cụ sử dụng trái phép ma túy trên ném xuống sông Vĩnh Điện thuộc phường Điện Bàn, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình làm việc tại trụ sở công an, Công an phường Điện Bàn tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Văn Ch kết quả dương tích ma túy loại Methamphetamine, MDMA. Công an phường tiến hành thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn Ch theo đúng quy định, niêm phong ký hiệu T1.
Ngày 02/4/2026, Công an phường Điện Bàn phối hợp Công an phường Ngũ Hành Sơn tiến hành kiểm tra, xác định lại hiện trường tại phòng trọ của Ch ở tầng 2 số nhà 85 Nguyễn Thế Kỷ, phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nhưng không thu giữ được gì. Tiến hành truy tìm vật chứng tại nơi đối tượng ném bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống sông Vĩnh Điện thuộc khối phố 4, phương Điện Bản, thành phố Đà Nẵng nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng liên quan.
- Tại Bản Kết luận giám định số 590/KL-KTHS ngày 06/4/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: “Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn Ch niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định có chất ma túy, loại Methamphetamine”.
- Tại Bản Kết luận giám định số 1040/KL-KTHS ngày 08/6/2026 của Phân viện khoa học kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn, lịch sử cuộc gọi trong ứng dụng Zalo giữa tài khoản “Thỏ” của Nguyễn Văn Ch được đăng ký bằng số điện thoại “0372894981” với tài khoản Zalo "abc" của người tên “Ke” trong điện thoại của Nguyễn Văn Ch gửi giám định.
Tại bản Cáo trạng số: 100 /CT-VKSKV10 - HS ngày 01 tháng 7 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ch về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị TDM140826.TL.QDBA.1994 cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ch từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng đề nghị, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 xử lý các vật chứng như sau:
Tịch thu, tiêu huỷ các vật chứng liên quan trực tiếp đến vụ án là: 01 túi niêm phong bằng giấy giao nhận lại sau giám định trong đó có chứa 01 vỏ chai nhựa đựng nước tiểu của Nguyễn Văn Ch và toàn bộ vỏ bao gói; 01 Sim số 0372894981 gắn trong điện thoại của Ch bị thu giữ. Tịch thu hoá giá, sung ngân sách nhà 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu xanh - đen, số sêri: LBW8IJBZL8PKJTC của Nguyễn Văn Ch.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; thống nhất với nội dung cáo trạng, rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội; xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai của bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Nguyễn Văn Ch là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 172/QĐ-UBND ngày 08/7/2024 của Ủy ban nhân dân phường Điện Minh, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Điện Bàn, thành phố Đà Nẵng), thời hạn quản lý 02 năm từ ngày 05/7/2024 đến 05/7/2026. Ngày 02/4/2026, Công an phường Điện Bàn tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với Ch theo diện quản lý người nghiện sau cai nghiện đã cho kết quả dương tính với Methamphetamine. Nguyễn Văn Ch đã thừa nhận bản thân sử dụng ma tuý vào ngày 14/02/2026, ngày 31/3/2026, ngày 01/4/2026 tại Phòng trọ của mình ở số 85 Nguyễn Thế Kỷ, phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Tại Bản Kết luận giám định số 590/KL-KTHS ngày 06/4/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: “Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn Ch niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định có chất ma túy, loại Methamphetamine”. Như vậy, hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Võ Văn Sin đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma tuý theo quy định của Luật phòng, chống ma tuý đã TDM140826.TL.QDBA.1994 phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự. Dó đó, Cáo trạng số 100/CT-VKS - HS ngày 01 tháng 7 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy; ảnh hưởng đến trật tự quản lý hành chính tại địa phương; ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Bị cáo có đủ nhận thức để biết được tác hại của ma túy và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội về ma túy. Để thoả mãn nhu cầu cá nhân bị cáo đã bất chấp sự cấm đoán của pháp luật sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện ma tuý theo luật Phòng, chống ma tuý. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm theo quy định để đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo khai nhận 03 lần sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng đối với lần sử dụng ma tuý vào ngày 14/02/2026, ngoài lời khai của bị cáo thì không có căn cứ để xác định hành vi phạm tội. Đối với lần sử dụng ma tuý vào chiều ngày 31/3/2026 và rạng sáng ngày 01/4/2026 là 02 lần tách biệt, có căn cứ rõ ràng xác định bị cáo phạm tội 02 lần trở lên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật nhình sự. Quá trình điều tra, tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét về nhân thân của bị cáo thì thấy, bị cáo đã nhiều lần (03 lần) bị Toà án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” nhưng bị cáo không thể chấm dứt hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Do vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để bị cáo có thời gian cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ các vật chứng có liên quan đến vụ án gồm: 01 (một) mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn Ch, ký hiệu là T1 gửi giám định; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu xanh - đen, số sêri: LBW8IJBZL8PKJTC, gắn sim, sim 1 số: “0372894981”, sim 2: không gắn sim của Nguyễn Văn Ch. Đối với mẫu nước tiểu hoàn trả sau giám định và sim 1 số 0372894981 cần tịch thu tiêu huỷ khi án có hiệu lực pháp luật. Đối với 01 điện thoại động hiệu OPPO F9 màu xanh - đen, số sêri: LBW8IJBZL8PKJTC bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua ma tuý nên tuyên tịch thu, hoá giá sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vấn đề khác có liên quan trong vụ án: Bị cáo Nguyễn Văn Ch khai nhận người thanh niên tên “Ke” là đã bán ma túy cho bị cáo, kết quả điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý. TDM140826.TL.QDBA.1994
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ch 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 21/4/2026.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
+ Tịch thu tiêu hủy khi án có hiệu lực pháp luật: 01 túi niêm phong bằng giấy giao nhận lại sau giám định, trong đó có chứa một vỏ chai nhựa đựng nước tiểu của Nguyễn Văn Ch và toàn bộ vỏ bao gói mẫu; 01 sim số 0372894981 (được gắn trong điện thoại OPPO F9 màu xanh – đen đang bị tạm giữ)
+ Tuyên tịch thu, hoá giá sung ngân sách nhà nước khi án có hiệu lực pháp luật: 01 điện thoại động hiệu OPPO F9 màu xanh - đen, số sêri: LBW8IJBZL8PKJTC.
(Các vật chứng đang được lưu giữ tại Kho vật chứng thuộc phân trại tạm giam Điện Bàn, Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Đà Nẵng theo Phiếu nhập kho vật chứng, tài liệu, đồ vật ngày 13/8/2026)
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn Ch phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (14/8/2026).
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4, 6 và 7 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự. TDM140826.TL.QDBA.1994
| Nơi nhận: - TAND TP Đà Nẵng; - Sở tư pháp TP Đà Nẵng; - VKSND TP Đà Nẵng - VKSND Khu vực 10 - Công an TP Đà Nẵng - Phòng THA khu vực 10; - Bị cáo; những NTGTT - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. TDM140826.TL.QDBA.1994 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Công Bá |