- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Bá T - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Bá T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2026/HS-ST ngày 26/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 167/2026/HS-PT Ngày: 20 - 7 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Bình.
Các Thẩm phán:
1. Bà Lưu Thị Thu Hường;
2. Bà Nguyễn Thị My My.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2026/TLPT-HS, ngày 25/5/2026 đối với bị cáo Huỳnh Bá T, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2026/HS-ST, ngày 26/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Huỳnh Bá T, sinh năm 1993; giới tính: Nam; số căn cước công dân: 048093000336, cấp ngày 07/4/2021.
Nơi cư trú: Tổ B, phường N, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở hiện nay: Tổ 02, khối phố C, phường Đ, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Bá M và bà Lê Thị Kim N; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Ngọc H và có 02 con, con lớn sinh năm 2024, con nhỏ sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiên đang tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Ông Huỳnh Kỳ T1 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Huỳnh Kỳ T2, sinh năm: 2006 (là con của bị hại); địa chỉ: Khu phố L, phường B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 19/6/2025, Huỳnh Bá T có giấy phép lái xe ô tô hạng C theo quy định, điều khiển xe ô tô tải biển số 50H - 129.86 của Công ty Cổ phần V, lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng N - B. Khi xe đi đến Km 1334 + 1200m, ngã ba nơi giao nhau với đường vào Khu tái định cư bờ tả Sông B, thuộc khu phố Đ, phường T, tỉnh Đắk Lắk, đoạn đường có biển báo cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, biển báo hiệu nguy hiểm đi chậm. Cùng lúc này, anh Huỳnh Kỳ T1 điều khiển xe mô tô biển số 78H1 - 447.20 lưu thông trên đường, đi từ Khu tái định cư B theo hướng Đ - Tây đã vào ngã ba và chuyển hướng lưu thông theo hương N1 - Bắc trên phần đường phía Đông, Quốc lộ A. Do T không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại để đảm bảo an toàn tại nơi đường bộ giao nhau, nơi có biển cảnh báo nguy hiểm, nên xe ô tô do T điều khiển đã va chạm với xe mô tô do anh T1 trung điều khiển gây tai nạn. Hậu quả vụ tai nạn làm anh Huỳnh Kỳ T1 chết tại chỗ, xe môtô 78H1 - 447.20 bị hư hỏng, giá trị thiệt hại là 400.000 đồng.
Tại Kết luận giám định tử thi số 427/KLGĐTT-KTHS ngày 24/6/2025 của Phòng K, Công an tỉnh P (nay là Công an tỉnh Đ) đã kết luận: Anh Huỳnh Kỳ T1 chết do đa chấn thương vỡ sọ, giập phòi não.
Tại Kết luận giám định số 445/KL-KTHS ngày 28/6/2025 của Phòng K, Công an tỉnh P (nay là Công an tỉnh Đ), kết luận: Mẫu máu ghi tên Huỳnh Kỳ T1 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P (nay là tỉnh Đắk Lắk) thu ngày 19/6/2025, gửi giám định tìm thấy E (cồn) với nồng độ 82 miligam/100 mililit máu; không tìm thấy các chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của các chất ma túy thường gặp.
Về phần dân sự: Sau khi tại nạn xảy ra, bị cáo Huỳnh Bá T đã bồi thường cho gia đình bị hại Huỳnh Kỳ T1 chi phí mai táng và các khoản chi phí khác số tiền là 144.000.000 đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, đã có Đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2026/HS-ST ngày 26/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk, đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Bá T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Bá T 09 (chín) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/3/2026, bị cáo Huỳnh Bá T có đơn kháng cáo, với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Bá T giữ nguyên nội dung kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và khẳng định bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Huỳnh Bá T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ và đúng người, đúng tội. Về mức hình phạt 09 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là phù hợp, nhưng bản án sơ thẩm buộc cách ly bị cáo với xã hội là có phần nghiêm khắc, bởi vì bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nhân thân tốt; trong vụ án này bị hại cũng có lỗi, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Bá T và sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Huỳnh Bá T 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì; bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo Huỳnh Bá T tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 19/6/2025, Huỳnh Bá T điều khiển xe ô tô tải biển số 50H - 129.86, lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng N - B. Khi đi đến đoạn đường K 1334 + 1200m, ngã ba nơi giao nhau với đường vào Khu tái định cư bờ tả Sông B, thuộc khu phố Đ, phường T, tỉnh Đắk Lắk, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn tại nơi đường bộ giao nhau, nơi có biển cảnh báo nguy hiểm, là vi phạm điểm b khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ, nên xe ô tô đã va chạm với xe mô tô biển số 78H1 - 447.20 do anh Huỳnh Kỳ T1 điều khiển, gây tai nạn. Hậu quả làm anh Huỳnh Kỳ T1 tử vong tại chỗ và gây thiệt hại về tài sản trị giá 400.000 đồng. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Huỳnh Bá T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp lý và đảm bảo đúng người, đúng tội.
Đối với kháng cáo của bị cáo Huỳnh Bá T, Hội đồng xét xử xét thấy: Về mức hình phạt 09 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nên kháng cáo của bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt là không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, việc bản án sơ thẩm buộc cách ly bị cáo với xã hội là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ: Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại và đã được người đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; đồng thời tại thời điểm điều khiển phương tiện tham gia giao thông, bị hại có sử dụng rượu, bia (nồng độ cồn là 82 miligam/100 mililit máu); hiện tại hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, đang phải nuôi 02 con còn rất nhỏ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó Hội đồng xét xử cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội với lỗi vô ý, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và hiện nay hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo tự cải tạo tại chỗ dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương và gia đình là phù hợp, như vậy cũng đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo. Do đó cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần và sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Bá T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2026/HS-ST ngày 26/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Bá T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Bá T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Huỳnh Bá T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Đà Nẵng, để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Huỳnh Bá T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (vụ 1); - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Văn phòng CQCSĐT CA tỉnh Đắk Lắk; - CQ THAHS Công an tỉnh ĐắkLắk; - TAND Khu vực 11 - Đắk Lắk; - Phòng THADS Khu vực 11 - Đắk Lắk; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Công Bình |