vanban.org

Bản án 167/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Quốc V 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/11/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2025/HS-ST
Ngày: 24-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn

2. Bà Lê Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Hương Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 195/2025/HS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 307/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Quốc V, sinh năm 1985, tại: Thành phố H; địa chỉ thường trú: Phường B (nay là Phường A), quận V, Thành phố H; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Ngọc N sinh năm 1948 (đã chết) và bà Đàm H sinh năm 1952; vợ là Lê Thanh T sinh năm 1985, có 02 con sinh năm 2015 và năm 2017; nhân thân: 03 tiền án, tiền sự;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày: 20/11/2024; (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Do có nhu cầu sử dụng ma túy, vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 16 tháng 11 năm 2024, Trần Quốc V đi bộ từ nhà đến khu vực đường Q, Phường C, quận V để tìm mua ma túy sử dụng. Khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến trước nhà của một người đàn ông, tên thường gọi là K thì K mở cửa đi ra trước cửa nhà gặp V. Lúc này, V nói K bán ma túy đá với số tiền 200.000 đồng và ma túy Heroine với số tiền 100.000 đồng cho V. K đồng ý bán ma túy và nhận của V số tiền 300.000 đồng, rồi K đưa cho V một gói nylon chứa ma túy đá và một gói nylon chứa Heroine. Sau khi mua ma túy xong, V đi bộ về nhà và lấy ra một ít ma túy đá cho vào bộ dụng cụ ma túy gồm một bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa rồi quẹt đốt nóng ma túy đá trong nỏ để sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy đá một mình xong, V tiếp tục lấy ra một ít Heroine bỏ lên tờ giấy bạc, dùng quẹt đốt phía dưới tờ giấy bạc để hít một mình hết số Heroine này. Số ma túy đá và Heroine còn lại, V để ở trên bàn tại phòng ngủ của V ở lầu 2 nhà số 1/2, đường N, Phường B, quận V, Thành phố H để sử dụng dần. Đến khoảng 15 giờ 15 phút ngày 18/11/2024, Tổ công tác Công an Phường B, quận V đến nhà kiểm tra, rà soát người nghiện và mời V về Công an phường làm việc. Qua xét nghiệm, kết quả V dương tính với ma túy đá và ma túy Heroine. Bản thân V thừa nhận có sử dụng ma túy đá và Heroine như trên. Đồng thời, V thừa nhận còn cất giấu ma túy đá và Heroine đã mua của K trước đó mà V chưa sử dụng hết, ở trên bàn trong phòng ngủ của V trên lầu 2 tại nhà số 1/2, đường N, Phường B, quận V, Thành phố H. Tổ công tác đã đưa V về nhà trên kiểm tra, V đã tự lấy 01 gói nylon chứa Heroine; 01 gói nylon chứa ma túy đá; 01 bình nhựa trên nắp có gắn ống hút nhựa và nỏ thủy tinh là dụng cụ sử dụng ma túy của V để ở trên bàn trong phòng ngủ trên của V giao nộp cho Tổ công tác. Tổ công tác đã lập Biên bản tạm giữ, niêm phòng toàn bộ vật chứng là ma túy cùng dụng cụ sử dụng ma túy của V và đưa V về Công an phường để làm lập hồ sơ xử lý theo quy định.

Tại trụ sở Công an phường, V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và Quyết định tạm giữ đối với Trần Quốc V về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ Kết luận giám định số 13809/KL-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố H kết luận như sau:

Gói 01: chất màu đen được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) không xác định được khối lượng, tìm thấy Methamphetamine ở dạng vết;

Gói 02: bột màu trắng được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0670g, loại Heroine; tinh thể được ký hiệu mẫu m3 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1824g, loại Methamphetamin

Cơ quan Công an tiến hành đưa Trần Quốc V đi xác định địa điểm nhà của đối tượng K đã bán ma túy cho V. Kết quả V xác định địa điểm V đến mua ma túy là tại trước cửa nhà số Y, đường N, Phường B, quận V, Thành phố H và V xác định căn nhà này cũng là nơi ở của K. Tiến hành truy xét đối tượng K bán ma túy cho V, Công an Phường C, quận V cung cấp: Đối tượng K có tên là Trần Đăng K, sinh năm 1979, nơi thường trú số Y, đường N, Phường B, quận V, Thành phố H. Tuy nhiên, K đã chuyển đi nơi khác, không còn sinh sống ở địa chỉ trên. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm Trần Đăng K và quyết định tách hành vi và tài liệu, ra quyết định phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm để tiếp tục xác minh làm rõ hành vi có dấu hiệu của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” của Trần Đăng K để xử lý theo quy định.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 (một) gói niêm phong bên trong có 01 nỏ thủy tinh dính chất màu đen (m1) bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Quốc V và hình dấu Công an Phường B, quận V. Kết luận giám định số 13809/KL-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố H kết luận chất màu đen được ký hiệu mẫu m1 không xác định được khối lượng, tìm thấy Methamphetamine ở dạng vết.

+ 01 (một) gói niêm phong bên trong có 01 gói nylon chứa bột màu trắng (m2), 01 gói nylon chứa tinh thể (m3) bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Quốc V và hình dấu Công an Phường B, quận V. Kết luận giám định số 13809/KL-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố H kết luận bột màu trắng được ký hiệu mẫu m2 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0670 gam, loại Heroine; tinh thể được ký hiệu mẫu m3 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1824 gam, loại Methamphetamine.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung gắn sim 0932636317 là tư vật của Trần Quốc V.

Tại bản Cáo trạng số 214/CT-VKSQGV ngày 09/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Trần Quốc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2] Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu, kết luận và đề nghị: Bị cáo V là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; bị cáo biết ma túy là chất nguy hiểm và cũng là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, bị cáo biết rõ chất ma túy bị Nhà nước cấm sử dụng và quản lý nghiêm khắc, mọi hành vi sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự xem thường pháp luật do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo suy nghĩ sửa chữa sai lầm về hành vi đã thực hiện và cải tạo để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Từ những căn cứ và phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quốc V từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (năm) tù.

Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Sau khi tranh luận, đại diện Viện kiểm sát bảo lưu quan điểm.

Tại phiên tòa khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời, bị cáo hữa không tái phạm nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Trần Quốc V đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trần Quốc V phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 18/11/2024, Tổ công tác Công an Phường B, quận V đến nhà kiểm tra, rà soát người nghiện và mời V về Công an phường làm việc. Đồng thời, V thừa nhận còn cất giấu ma túy đá và Heroine đã mua của K trước đó mà V chưa sử dụng hết, ở trên bàn trong phòng ngủ của V trên lầu 2 tại nhà số 1/2, đường N, Phường B, quận V, Thành phố H. Tổ công tác đã đưa V về nhà trên kiểm tra, V đã tự lấy 01 gói nylon chứa Heroine; 01 gói nylon chứa ma túy đá; 01 bình nhựa trên nắp có gắn ống hút nhựa và nỏ thủy tinh là dụng cụ sử dụng ma túy của V để ở trên bàn trong phòng ngủ trên của V giao nộp cho Tổ công tác. Như vậy, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 0,0670 gam, loại Heroine và khối lượng 0,1824 gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.

Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Quốc V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 214/CT-VKSQGV ngày 09/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Theo kết luận giám định thì số ma túy thu giữ được của bị cáo có khối lượng 0,0670 gam, loại Heroine và khối lượng 0,1824 gam, loại Methamphetamine. Do đó, cần áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến tại phiên tòa, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, cha bị cáo mất, mẹ lớn tuổi, có 02 con nhỏ, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không có.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) gói niêm phong bên trong có 01 nỏ thủy tinh dính chất màu đen (m1) bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Quốc V và hình dấu Công an Phường B, quận V, theo Kết luận giám định và Phiếu nhập kho vật chứng số 169/PNK ngày 31/3/2025 (tại bút lục số 37), chất màu đen được ký hiệu mẫu m1 không xác định được khối lượng, tìm thấy Methamphetamine ở dạng vết, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 (một) gói niêm phong bên trong có 01 gói nylon chứa bột màu trắng (m2), 01 gói nylon chứa tinh thể (m3) bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Quốc V và hình dấu Công an Phường B, quận V, theo Kết luận giám định và Phiếu nhập kho vật chứng số 169/PNK ngày 31/3/2025 (tại bút lục số 37), bột màu trắng được ký hiệu mẫu m2 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0670 gam, loại Heroine và tinh thể được ký hiệu mẫu m3 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1824 gam, loại Methamphetamine, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung gắn sim 0932636317 là tư vật của Trần Quốc V không liên quan đến việc mua ma túy về tàng trữ để sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo do chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục xác minh, điều tra, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 46, Điều 47, Điều 106, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

[2] Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Quốc V 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/11/2024.

[3] Về biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên trong có 01 nỏ thủy tinh dính chất màu đen (m1) bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Quốc V và hình dấu Công an Phường B, quận V, chất màu đen được ký hiệu mẫu m1 không xác định được khối lượng, tìm thấy Methamphetamine ở dạng vết.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên trong có 01 gói nylon chứa bột màu trắng (m2), 01 gói nylon chứa tinh thể (m3) bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Quốc V và hình dấu Công an Phường B, quận V, bột màu trắng được ký hiệu mẫu m2 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0670 gam, loại Heroine và tinh thể được ký hiệu mẫu m3 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1824 gam, loại Methamphetamine.

- Trả lại cho bị cáo Trần Quốc V 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung gắn sim 0932636317.

(Cùng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 169/PNK ngày 31/3/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Thành phố Hồ Chí Minh).

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

[6] Nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung).

Cỡ chữ