vanban.org

Bản án 167/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 17/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội, quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Kim H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà…"
  • Tòa quyết gì? 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Hình sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 167/2024/HS-PT

Ngày: 17/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy. Các Thẩm phán: 1. Ông Hồ Văn Cường 2. Bà Nguyễn Thanh Minh Châu - Thư ký phiên toà: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân Tây Ninh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên. Ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 173/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Kim H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024, của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Tây Ninh. Bị cáo: Nguyễn Kim H; Tên g i khác: không; sinh ngày 09/5/1985; Nơi sinh: tỉnh Tây Ninh; iới tính: nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú hiện nay: Khu phố B, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Trình độ h c vấn: 4/12; Ngh nghiệp: Bán vé số; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao ài; Cha: Nguyễn Kim T, sinh năm: 1961; Mẹ: Võ Thị N, sinh năm: 1959; Chồng: Nguyễn Văn C (đã ly hôn), con: 01 người, sinh năm 2010; Ti n án: Không có; Ti n sự: không có. Nhân thân: - Ngày 25/02/2000, bị Ủy ban nhân dân tỉnh T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G, Cục A Bộ C2 thời hạn 24 tháng v hành vi “Trộm cắp tài sản công dân”. Ngày 07/3/2002 chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Người tham gia tố tụng khác: 1. Nguyên đơn dân sự: Bà Lê Kim L, sinh năm: 1976; ịa chỉ: Ấp C, xã , huyện C, tỉnh Tây Ninh. Có mặt 2. Bị đơn dân sự: Cháu Nguyễn Huỳnh N1, sinh ngày 28/12/2010; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú hiện nay: Khu phố B, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Người giám hộ của cháu N1: Bị cáo Nguyễn Kim H, sinh ngày 09/5/1985; Nơi sinh: tỉnh Tây Ninh; iới tính: nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú hiện nay: Khu phố B, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. 3. Người có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Ng c Minh C1, sinh năm: 2001; ịa chỉ: Ấp C, xã , huyện C, tỉnh Tây Ninh. Có mặt Người kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Kim H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 19/5/2024, Nguyễn Huỳnh N1, sinh ngày 28/12/2010 gặp mẹ ruột là Nguyễn Kim H xin 40.000 đồng đi chơi, sau đó Như nhờ chị Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1982, ngụ ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh chở đến C thuộc phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh để gặp bạn nhưng không gặp được nên N1 kêu chị P chở ra Chợ T2, trả ti n xe cho chị P 40.000 đồng. ến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 20/5/2024, N1 nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của người khác bán lấy ti n tiêu xài nên đi bộ rảo quanh trong chợ. Khi đi ngang sạp bán rau củ tại nhà số A đường P, thuộc khu phố A, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh do bà Lê Kim L, sinh năm 1976, ngụ ấp C, xã , huyện C, tỉnh Tây Ninh làm chủ, thấy cửa rào không khóa nên Như lén lút đi vào lục tìm lấy trộm một bóp nữ bằng da màu đỏ, có dây kéo bằng kim loại màu vàng bên trong có 161.750.000 đồng và một bao lì xì màu đỏ bên trong có số ti n 120.000 Yên Nhật Bản của bà L; một cái bóp nữ bằng da, màu đen bên trong có nhi u giấy tờ và số ti n 5.350.000 đồng của chị Trương Ng c Minh C1, sinh năm 2001, ngụ ấp C, xã , huyện C, tỉnh Tây Ninh là con dâu của bà L đang nằm ngủ. Sau đó, N1 lấy toàn bộ số ti n trong hai cái bóp cất giấu vào trong áo khoác, và vứt bỏ hai cái bóp cùng giấy tờ lại chợ rồi đi bộ ra Bến xe T đón xe ôm v nhà tại địa chỉ số A đường P, thuộc khu phố B, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh hết 100.000 đồng, trên đường đi Như lấy 6.000.000 đồng cất giấu riêng. Khi v đến nơi, Như nói dối với H “nhặt được số ti n lớn”, H tiếp tục hỏi nguồn gốc số ti n thì N1 trả lời “lấy trộm ti n trong chợ thị xã T”. Do cần ti n tiêu xài nên H kêu N1 đưa ti n, N1 đưa cho H số ti n 93.000.000 đồng và 120.000 Yên Nhật Bản, còn lại 74.000.000 đồng Như cất giữ riêng. ối với 120.000 Yên Nhật Bản, H không biết giá trị nên đem cất giấu ở cống gần nhà. Có được ti n, H, Như tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng ti n, kết quả Như thua số ti n khoảng 10.000.0000 đồng, H thua số ti n khoảng 30.000.000 đồng. ến khoảng 07 giờ ngày 20/5/2024, H đến tiệm V của bà Phạm Thị Ng c , sinh năm 1961, ngụ Khu phố B, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, mua một sợi dây chuy n vàng và mặt dây chuy n trị giá 13.230.000 đồng. Sau đó, H tiếp tục đến cửa hàng mua bán xe mô tô Sang Bảy Lẽ của ông Bùi Văn L1, sinh năm 1941, ngụ khu phố B, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh mua 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu xanh đen bạc, biển số 70C1-225.07 với số ti n 13.000.000 đồng đem v nhà đưa cho N1 sử dụng. Như tiếp tục đưa cho H số ti n 5.000.000 đồng. Cùng ngày, H, N1 đi v nhà ba mẹ ruột của H (là ông Nguyễn Kim T, sinh năm 1961 và bà Võ Thị N, sinh năm 1959) tại địa chỉ số E, tổ A, ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, H đưa cho ông T số ti n 30.000.000 đồng, đưa cho bà N số ti n 5.000.000 đồng, N1 đưa cho ông T số ti n 1.000.000 đồng, đưa cho bà N số ti n 2.000.000 đồng, nói dối là ti n do H trúng số. Sau đó, N1 đi u khiển xe mô tô 70C1-225.07 đi ăn sáng. Riêng H tiếp tục đi đến sòng bạc tại gốc cây xoài trước cửa nhà số A P, thuộc khu phố B, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh để chơi đánh bạc, lúc này ông Nguyễn Kim T đến gặp, trả lại cho H số ti n 35.000.000 đồng, H sử dụng đánh bạc. Sau khi Như đi ăn sáng v , H, N1 đi đến cửa hàng H2, thuộc số C, ường T, thuộc khu phố A, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh gặp anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1995, ngụ ấp P, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh làm quản lý mua 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vario 125, màu xanh, không biển số với số ti n 43.000.000 đồng, do H không đủ ti n nên N1 tiếp tục đưa cho H số ti n 30.000.000 đồng để H trả ti n mua xe. Sau khi mua xe, Như nói hết ti n nên H đưa lại cho Như số ti n 10.000.000 đồng. Số ti n còn lại H sử dụng đánh bạc thua hết, Như đánh bạc thua hết số ti n 10.900.000 đồng, còn lại 25.100.000 đồng. ến 09 giờ ngày 21/5/2024, Nguyễn Huỳnh N1 đi u khiển xe mô tô biển số 70C1-225.07 ra C thuộc Phường B, thành phố T thì bị Công an thành phố T phát hiện, thu giữ số ti n 25.100.000 đồng cùng xe mô tô. Qua xác minh ban đầu, Công an thành phố T mời Nguyễn Kim H v trụ sở để làm việc. Tại đây, H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng thời giao nộp lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vario 125, màu xanh, không biển số. ối với số ti n 120.000 Yên Nhật Bản do H cất giấu ở cống gần nhà, qua kiểm tra không còn nên không thu hồi được. Riêng số ti n 3.000.000 đồng do Như cho ông T và bà N, hiện ông T, bà N tự nguyện giao nộp bồi thường cho bị hại. Kết luận định giá tài sản số 70/KL-H TS ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố T kết luận: - 01 (một) cái bóp nữ bằng da, màu đen, hình chữ nhật, kích thước (rộng, dài) (09x19)cm và 01 (một) cái bóp nữ bằng da, màu đỏ, có dây kéo bằng kim loại màu vàng, kích thước (rộng, cao) (11x18)cm, hình chữ nhật, không đủ cơ sở định giá; - Ngoại tệ: số ti n 120.000 Yên (ti n Nhật Bản) trị giá 19.017.600 đồng. Quá trình đi u tra Nguyễn Kim H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải v hành vi phạm tội của mình. Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: * Của Nguyễn Huỳnh N1: - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu xanh đen bạc, biển số 70C1-225.07, số máy: JA39E0261927, số khung: RLHJA3980HY261895. - 01 sợi dây chuy n bằng kim loại màu vàng hình mắc xích, có mặt hình tượng phật (hiện đang tạm giữ tại Kho bạc). - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 70000402. - 01 đôi dép kẹp nữ màu đen. - 01 áo khoác dài tay màu đen s c trắng, trên ngực áo có chữ Adidas. Của Nguyễn Kim H: - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vario 125, màu xanh, không biển số, số khung: MH1JA4656RK01381, số máy: JA69E-5013399. Của ông Nguyễn Hữu T1: - 01 hoá đơn giá trị gia tăng, số 00000871 đ ngày 26/7/2024 của Công ty TNHH một thành viên H3, xuất kho cho người mua hàng Nguyễn Kim H, địa chỉ L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. - 01 giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe mô tô, xe gắn máy nhập khẩu, số 24KXM/203914, ngày 12/01/2024 của Cục 1. * ã trả lại cho chị Trương Ng c Minh C1: - Số ti n 5.350.000 đồng. - 01 bóp nữ bằng da, màu đen, hình chữ nhật, kích thước (rộng, dài) (09 x 19)cm. - 01 căn cước công dân số 072301002480 mang tên Trương Ng c Minh C1. - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 70000591 mang tên Lữ Quang S. - 01 thẻ bảo hiểm y tế số TE1727222741100 mang tên Lữ Trương ia B. - 01 thẻ bảo hiểm y tế số 7222829437 mang tên Lữ Ng c Khả H1. * ã trả lại cho bà Lê Kim L: - Số ti n 22.750.000 đồng. - 01 bóp nữ bằng da, màu đỏ, có giây kéo bằng kim loại màu vàng, kích thước (rộng, cao) (11x18)cm, hình chữ nhật. * V trách nhiệm dân sự: Bà Trương Ng c Minh C1 đã nhận lại số ti n 5.350.000 đồng, bóp da nữ màu đen và các giấy tờ, không yêu cầu bồi thường. Bà Lê Kim L đã nhận lại số ti n 22.750.000 đồng, bóp da nữ màu đỏ, yêu cầu bồi thường số ti n 158.017.600 đồng. Qua xác minh, Nguyễn Kim H không có tài sản nên không tiến hành kê biên. - Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024, của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Tây Ninh, quyết định: 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Căn cứ điểm c khoản 2 i u 323, điểm s khoản 1 i u 51, i u 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Kim H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/5/2024. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên v trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quy n kháng cáo của bị cáo, người bị hại, người có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan - Ngày 09/10/2024, bị cáo Nguyễn Kim H kháng cáo: xin giảm nhẹ hình phạt. - Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo Trong phần tranh luận: - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: ơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn, đúng v trình tự, thủ tục theo quy định tại i u 332, i u 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. V nội dung: nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, áp dụng điểm c khoản 2 i u 323, điểm s khoản 1 i u 51, i u 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Kim H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/5/2024. - Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận v việc làm của mình, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] V thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim H trong thời hạn luật định, xét v trình tự, thủ tục đúng theo quy định tại i u 332, i u 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. [2] Hành vi của bị cáo thể hiện như sau: Ngày 20/5/2024, tại nhà số A đường P, thuộc khu phố A, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, cháu Nguyễn Huỳnh N1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Lê Kim L số ti n 180.767.600 đồng, của chị Trương Ng c Minh C1 số ti n 5.350.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Kim H là mẹ của cháu N1 khi biết rõ việc cháu N1 lấy trộm tài sản nhưng không đem trả lại cho bị hại mà tiêu thụ số ti n 147.017.600 đồng. là vi phạm điểm c khoản 2 i u 323 Bộ luật Hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Kim H 04 năm tù theo quy định tại điểm c khoản 2 i u 232 của Bộ luật Hình sự, là phù hợp, không nặng. [3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim H, thấy rằng: Vụ án mang tính chất nghiêm tr ng, hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự trị an xã hội, gây thiệt hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình đi u tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm cũng đã xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải v hành vi phạm tội, cơ quan Công an đã thu giữ của cháu N1 và bị cáo số ti n 25.100.000đ, hai chiếc xe mô tô, một dây chuy n vàng... Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 i u 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không có ti n án, ti n sự, tuy nhiên tài sản bị cáo tiêu thụ là 147.017.600 đồng, theo điểm c khoản 2 i u 323 Bộ luật Hình sự, tiêu thụ tài sản trị giá từ 100.000.000đ đến dưới 300.000.000đ thì khung hình phạt từ 3 năm đến 7 năm tù, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 4 năm tù là phù hợp, không nặng nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân thành phố TN. [4] ại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa đ nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có căn cứ. [5] V án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được Tòa án chấp nhận nên theo quy định tại điểm d khoản 2 i u 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo H phải chịu án phí phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 i u 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm b i u 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim H 2. iữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024, của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Tây Ninh v hình phạt, như sau: 2.1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. - Căn cứ điểm c khoản 2 i u 323, điểm s khoản 1 i u 51, i u 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Kim H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/5/2024. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 4. V án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Kim H phải chịu 200.000đ. 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ