- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích T.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 167/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17-6-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thành Nghĩa.
2. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh An, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 03 năm 2024, về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 04 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 523/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 13 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1996; cư trú tại thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1989; cư trú tại khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích T trình bày: Chị và anh Nguyễn Ngọc T1 kết hôn vào ngày 13 tháng 6 năm 2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định. Trước khi kết hôn giữa chị và anh T1 có tìm hiểu rồi tự nguyện đăng ký kết hôn chứ không ai ép buộc, lừa dối. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc giữa chị và anh T1 bất đồng về quan điểm nuôi dạy con cái; giữa chị và anh T1 không còn phù hợp với nhau về tính cách, luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến chị và anh T1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, kình cãi với nhau; anh T1 thường xuyên uống bia, rượu và không có trách nhiệm với chị và các con. Mâu thuẫn trên đã được gia đình hoà giải nhưng cũng không hàn gắng được. Nay chị và anh T1 không còn tình cảm gì với nhau nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T1. Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị có 02 người con chung là cháu Nguyễn Thái Gia A, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2022 và cháu Nguyễn Thái Gia B, sinh ngày 17 tháng 09 năm 2023. Nay ly hôn chị yêu cầu được nuôi con hai con là cháu Nguyễn Thái Gia A và cháu Nguyễn Thái Gia B. Chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết tài sản chung của vợ chồng chị. Hiện nay chị và anh T1 không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với ai khác. Ngoài ra chị không trình bày và yêu cầu gì thêm. Tại phiên toà bị đơn anh Nguyễn Ngọc T1 vắng mặt nhưng tại lời khai anh Nguyễn Ngọc T1 trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Bích T kết hôn vào ngày 13 tháng 6 năm 2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định. Trước khi kết hôn giữa anh và chị T có tìm hiểu rồi tự nguyện đăng ký kết hôn chứ không có ai ép buộc, lừa dối. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống hạnh phúc chứ không xảy ra mâu thuẫn gì. Chị T cho rằng anh T1 thường xuyên uống bia, rượu với bạn bè là không đúng. Vì thường các con anh không đồng ý ly hôn, nhưng chị T vẫn yêu cầu ly hôn nên anh nhận thấy anh và chị T không còn tình cảm vợ chồng, mục đích của hôn nhân không đạt được, anh và chị T sống không hạnh phúc nên anh đồng ý ly hôn với chị T. Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh có 02 người con chung là cháu Nguyễn Thái Gia A, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2022 và cháu Nguyễn Thái Gia B, sinh ngày 17 tháng 09 năm 2023. Nếu Toà án cho vợ chồng anh ly hôn, anh yêu cầu giao cháu Nguyễn Thái Gia A cho anh trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Thái Gia B cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Anh không yêu cầu Toà án giải quyết tài sản chung của vợ chồng anh. Hiện nay anh và chị T không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với ai khác. Ngoài ra anh không trình bày và yêu cầu gì thêm. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích T, cho chị Nguyễn Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T1; giao con chung của chị Nguyễn Thị Bích T và anh Nguyễn Ngọc T1 là cháu Nguyễn Thái Gia A, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2022 và cháu Nguyễn Thái Gia B, sinh ngày 17 tháng 09 năm 2023 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Bích T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Chị Nguyễn Thị Bích T và anh Nguyễn Ngọc T1 không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm thụ lý vụ án và hiện nay bị đơn anh Nguyễn Ngọc T1 cư trú tại khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định. Do đó theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Ngọc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Ngọc T1.
Về nội dung vụ án: [3.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị Bích T và anh Nguyễn Ngọc T1 kết hôn vào ngày 13 tháng 6 năm 2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2022. Việc kết hôn giữa chị T và anh T1 tuân theo các điều kiện quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hợp pháp. Chị Nguyễn Thị Bích T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T1 vì cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc giữa chị và anh T1 không còn phù hợp với nhau về tính cách, luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến chị và anh T1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, kình cãi với nhau; anh T1 thường xuyên uống bia, rượu và không có trách nhiệm với chị và các con. Anh Nguyễn Ngọc T1 cho rằng, sau khi kết hôn vợ chồng anh sống hạnh phúc chứ không xảy ra mâu thuẫn gì; vì thường các con anh không đồng ý ly hôn, nhưng chị T vẫn yêu cầu ly hôn nên anh nhận thấy anh và chị T không còn tình cảm vợ chồng, mục đích của hôn nhân không đạt được, anh và chị T sống không hạnh phúc nên anh đồng ý ly hôn với chị T. Tòa án thu thập các tài liệu, chứng cứ xác định nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 để tiến hành hòa giải, nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng chị T và anh T1, nhưng anh T1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm lần thứ hai. Do đó, có đủ căn cứ chứng minh hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét cho chị T được ly hôn với anh T1. [3.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bích T và anh Nguyễn Ngọc T1 thống nhất có 02 người con chung là cháu Nguyễn Thái Gia A, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2022 và cháu Nguyễn Thái Gia B, sinh ngày 17 tháng 09 năm 2023. Chị Nguyễn Thị Bích T yêu cầu giao hai con là Nguyễn Thái Gia A và Nguyễn Thái Gia B cho chị trực tiếp nuôi dưỡng; anh T1 yêu cầu giao cháu Nguyễn Thái Gia A cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu A và cháu B; anh T1 yêu cầu nuôi con chung là cháu A nhưng tại phiên toà hôm nay anh T1 tiếp tục vắng mặt; hiện nay cháu A còn nhỏ. Vì vậy để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của cháu A và cháu B; căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu A và cháu B cho chị T trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh T1 không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị T. Khi cần thiết chị T và anh T1 đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Bích T và anh Nguyễn Ngọc T1 đều không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích T phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích T.
2. Về quan hệ hôn nhân:
2.1. Cho chị Nguyễn Thị Bích T ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T1.
2.2. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bích T và anh Nguyễn Ngọc T1 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2022 do Ủy ban nhân dân thị trấn D , huyện T, tỉnh Bình Định chứng nhận ngày 13 tháng 06 năm 2022 chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
3. Về con chung:
3.1. Giao con chung của chị Nguyễn Thị Bích T và anh Nguyễn Ngọc T1 là cháu Nguyễn Thái Gia A, sinh ngày 04 tháng 07 năm 2022 và cháu Nguyễn Thái Gia B, sinh ngày 17 tháng 09 năm 2023 cho chị Nguyễn Thị Bích T trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Hiện nay chị Nguyễn Thị Bích T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thái Gia A và cháu Nguyễn Thái Gia B.
3.2. Chị Nguyễn Thị Bích T không yêu cầu anh Nguyễn Ngọc T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
3.3. Anh Nguyễn Ngọc T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Nguyễn Ngọc T1 không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Nguyễn Thị Bích T. Khi cần thiết chị Nguyễn Thị Bích T và anh Nguyễn Ngọc T1 đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
4. Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Bích T và anh Nguyễn Ngọc T1 không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Bích T phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị Nguyễn Thị Bích T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001564 ngày 20 tháng 03 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 17 tháng 6 năm 2024). Bị đơn anh Nguyễn Ngọc T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; - Ủy ban nhân dân thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn thư. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Công Minh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |