vanban.org

Bản án 167/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thanh Th đối với ông Trần Văn Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thanh Th được ly hôn với ông Trần Văn Đ. Về con chung: Ông Trần Văn Đ được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Thanh Thảo, sinh ngày 19/8/2008 và Trần Thị Thảo Vy, sinh ngày 19/9/2011. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thanh Thúy "ly hôn" Trần Tấn Đạo"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thanh Th đối với ông Trần Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 6 - 2023
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Kim Cương;

2. Ông La Văn Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 600/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2023/QĐXX-ST ngày 17/6/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thanh Th, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Tấn Đ, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Ấp Đ1, xã Đ2, huyện Đ3, tỉnh Long An (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thanh Th trình bày:

Bà Th và ông Trần Văn Đ xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ2, huyện Đ3, tỉnh Long An vào ngày 08/8/2013. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, vợ chồng không thể hàn gắn nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đạo.

Về con chung: Qúa trình chung sống, ông bà có 02 con chung tên Trần Thị Thanh Th, sinh ngày 19/8/2008 và Trần Thị Thảo V, sinh ngày 19/9/2011. Sau khi ly hôn, bà Th đồng ý để ông Đ được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Bị đơn ông Trần Văn Đ trình bày tại bản tự khai ngày 17/6/2023:

Ông đồng ý ly hôn với bà Th. Qúa trình chung sống, ông bà có 02 con chung tên Trần Thị Thanh Th, sinh ngày 19/8/2008 và Trần Thị Thảo V, sinh ngày 19/9/2011. Hiện 02 con đang sống với ông, sau khi ly hôn ông yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng các con; không yêu cầu bà Th cấp dưỡng nuôi con và xin được giải quyết vắng mặt.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thanh Th nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Trần Văn Đ có địa chỉ cư trú tại xã Đ2, huyện Đ3, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Th và ông Đ tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 08/8/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã Đ2, huyện Đ3, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ phần trình bày của bà Th về mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn, hiện không còn sống chung, không quan tâm lo lắng cho nhau, bà Th vẫn giữ yêu cầu ly hôn, ông Đ đồng ý. Qua đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Th và ông Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thanh Th.

Về con chung: Qúa trình chung sống, ông bà có 02 con chung tên Trần Thị Thanh Th, sinh ngày 19/8/2008 và Trần Thị Thảo V, sinh ngày 19/9/2011. Hiện các con đang sống cùng ông Đ. Sau khi ly hôn, ông Đ và bà Th thống nhất để ông Đ được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và các con cũng có nguyện vọng sống cùng ông Đ. Căn cứ vào điều kiện của các bên; quyền lợi về mọi mặt và lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Trần Thị Thanh Th và Trần Thị Thảo V cho ông Đ tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đ không yêu cầu nên bà Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Trường hợp sau này, các đương sự có phát sinh tranh chấp liên quan đến tài sản chung, nợ chung được quyền khởi kiện thành vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thanh Th phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thanh Th đối với ông Trần Văn Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thanh Th được ly hôn với ông Trần Văn Đ.

Về con chung: Ông Trần Văn Đ được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Thanh Thảo, sinh ngày 19/8/2008 và Trần Thị Thảo Vy, sinh ngày 19/9/2011.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thanh Th không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Đạo không yêu cầu.

Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Trần Thanh Th phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà Thđã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003724 ngày 30/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà Th đã nộp xong.

Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thanh Th và ông Trần Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ