vanban.org

Bản án 167/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 27/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về pháp luật: Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Quang V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Quang V 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Quang Vinh - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về pháp luật: Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2022/HS-ST
Ngày: 27 – 12 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Ngọc Tươi

Ông Nguyễn Văn Chiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2022/TLST-HS ngày 13/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2022/QĐXX-ST ngày 25/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2022/HSST-QĐ ngày 14/12/2022 đối với bị cáo:

Trịnh Quang V, sinh ngày 31/01/2001 tại tỉnh Đồng Nai; Chứng minh nhân dân/căn cước công dân số 272773962 do Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 01/4/2016; Nơi cư trú: 62C, ấp L, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trịnh Quốc Kinh K, sinh năm 1970 và bà: Phạm Thị Thùy T, sinh năm 1974; gia đình bị cáo có 4 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 20/8/2021, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

Bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu: Luật sư Sin Thoại K – thuộc Công ty Luật TNHH MTV Thoại K thuộc đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

Địa chỉ: 347/69/47B Lê Văn Thọ, phường 9, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tại liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Quang V là người sử dụng trái phép chất ma túy. Để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng, trong thời gian từ tháng 6/2021 đến ngày 20/8/2021, V đã nhiều lần mua ma túy của Trương T H (sinh năm 1999, nơi cư trú: 17 Lầu 1, Trần Hòa, phường 10, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh) và Lê Cao Mỹ Duyên (không rõ địa chỉ) ở thành phố Hồ Chí Minh mang về Đồng Nai bán lại cho nhiều người khác nhau, cụ thể:

Tháng 8/2021, Trịnh Quang V sử dụng điện thoại di động số 0389255212 liên lạc, thỏa thuận mua của Trương T H 100 gam ma túy loại Ketamine giá 80.000.000 đồng; 100 viên ma túy loại thuốc lắc giá 17.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Ngày 19/8/2021, V thỏa thuận mua của Trương T H 100 gam ma túy loại Ketamine giá 80.000.000 đồng và 100 viên ma túy (thuốc lắc) giá 17.000.000 đồng, V chuyển khoản trả trước cho H 15.000.000 đồng, số tiền còn lại sau khi bán ma túy V sẽ trả cho H. Đến buổi chiều cùng ngày V nhận được 100 gam ma túy loại Ketamine và 100 viên ma túy (thuốc lắc) do H gửi xe khách của Công ty trách nhiệm hữu hạn Võ Cúc Phương. Sau đó V mang bán lại cho Thân Văn T (sinh năm 1991, nơi thường trú: tổ 4, ấp 9, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai) giá 103.000.000 đồng nhưng T chưa trả tiền cho V.

Ngày 20/8/2021, V tiếp tục thỏa thuận mua của H 100 viên thuốc lắc giá 17.000.000 đồng, V chuyển khoản trả trước cho H 12.000.000 đồng, số tiền còn lại sau khi bán được ma túy V sẽ chuyển khoản trả cho H. H cho ma túy vào hộp giấy, V nói H ghi tên người nhận “Nguyễn Minh Tú 0389.255.212 Hưng Lộc - Dầu Giây” và gửi xe ôtô chở khách của Công ty trách nhiệm hữu hạn Võ Cúc Phương về trạm đón, trả khách tại địa chỉ 846 khu phố Trần Hưng Đạo, thị trấn Dầu Giây, huyện T. Lúc 16 giờ 00 phút ngày 20/8/2021, Công an huyện T kiểm tra phát hiện Trịnh Quang V có dấu hiệu mua bán trái phép chất ma túy thu giữ 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max màu xanh số 0389255212; 01 xe mô tô biển số 60B-733.39; Số tiền 3.200.000 đồng. Tiến hành khám xét nơi ở của V (nhà nghỉ Quang V, khu phố Lập Thành, thị trấn Dầu Giây, huyện T, tỉnh Đồng Nai) thu giữ tại phòng ngủ của V 01 túi nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng; 02 túi nilon hàn kín hiệu Crispy Fruit bên trong chứa chất bột; 01 hộp giấy sọc vàng đen trắng trên hộp có dán băng keo có ghi nội dung “Tú 0389255212, 0389255212 Trạm Long Khánh”; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen số 0933193101 và số 0379724148; 01 điện thoại Iphone Xsmax màu vàng số 0779973339. Thực hiện lệnh thu giữ bưu phẩm đối với Trịnh Quang V tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Võ Cúc Phương địa chỉ khu phố Lập Thành, thị trấn Dầu Giây, huyện T, tỉnh Đồng Nai kết quả thu giữ 01 túi nilon màu trắng ghi chữ “Ng Minh Tú 0389255212 Hưng Lộc, Dầu Giây” bên trong có chứa 02 hộp nhựa màu trắng đựng các hạt màu xanh (tổng cộng có 100 viên nén hình kim cương màu xanh).

Ngoài việc mua bán ma túy của H thì trong thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 8/2021, V 03 lần mua tổng cộng 30 gói ma túy giá 18.000.000 đồng của Lê Cao Mỹ Duyên (mỗi lần mua 10 gói) mang về nhà sử dụng và bán. Trịnh Quang V bán cho nhiều người khác nhưng không biết tên, tuổi địa chỉ của người mua, trong đó, V bán cho người có tên Thu Xinh ở thành phố Biên Hòa (không rõ họ tên, địa chỉ) 02 lần 02 gói ma túy giá 4.600.000 đồng (mỗi lần 01 gói ma túy giá 2.300.000 đồng). Số ma túy thu giữ trong phòng ngủ của V là do V mua trước đó của Duyên để sử dụng và bán nhưng chưa bán hết thì bị phát hiện, thu giữ.

Ngoài ra vào tháng 07/2021, V khai đã giới thiệu cho H bán cho T 20 gam ma túy loại Ketamine nhưng khi nhận được gói ma túy T cân kiểm tra có khối lượng 18,65 gam.

Kết luận giám định số 1715/KLGĐ-PC09 ngày 27/8/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai về số ma túy thu giữ của Trịnh Quang V:

- “Mẫu 46 (bốn mươi sáu) viên nén màu xanh, hình viên kim cương (ký hiệu M11) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 15,5205 gam loại MDMA.

- Mẫu 54 (năm mươi tư) viên nén màu xanh, hình viên kim cương (ký hiệu M12) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 18,2781 gam loại MDMA.

- Mẫu chất bột (ký hiệu M21) được niêm phong gửi đến giám định không phải là ma túy, có khối lượng: 1,9763 gam loại tinh bột.

- Mẫu chất bột (ký hiệu M22) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 7,4816 gam loại MDMA.

- Mẫu chất bột (ký hiệu M23) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 7,1179 gam loại MDMA,Methamphetamine”.

Cáo trạng số 4856/CT-VKS-P2 ngày 11/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trịnh Quang V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

- Về tội danh và điều luật áp dụng: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trịnh Quang V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

- Các tình tiết tang nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trờ lên nên phạm vào điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự

- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, chưa tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Điều luật áp dụng và mức án đề nghị:

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Quang V với mức án từ 15 đến 17 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại đã được niêm phong sau giám định .

- Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Trịnh Quang V tại phiên tòa:

Thống nhất theo đề nghị truy tố của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật. Tuy nhiên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo xuất thân trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ ly hôn nên bị cáo và em út ở với mẹ, mẹ bị cáo bị bệnh sức khỏe yếu nên bị cáo là lao động chính trong gia đình; trong quá trình học tập bị cáo đạt thành tích học sinh giỏi nhiều năm. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, v khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Với các tình tiết giảm nhẹ trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tụng tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

Về nội dung vụ án:

2.1. Về hành vi của bị cáo bị truy tố, tội danh và Điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 6/2021 đến tháng 8/2021, V 03 lần mua ma túy của Duyên, mỗi lần mua 10 gói (tổng cộng 30 gói) với giá 18.000.000 đồng mang về nhà sử dụng và bán cho nhiều người khác nhưng không biết tên, tuổi địa chỉ trong đó có bán cho người tên Thu Xinh 02 lần, mỗi lần 01 gói ma túy giá 2.300.000 đồng.

Ngày 19/8/2021, V mua của Trương T H 100 gam ma túy loại Ketamine giá 80.000.000 đồng và 100 viên ma túy loại thuốc lắc giá 17.000.000 đồng sau đó bán lại cho Thân Văn T giá 103.000.000 đồng.

Lúc 16 giờ 15 phút ngày 20/8/2021, tại nhà nghỉ Quang V, khu phố Lập Thành, thị trấn Dầu Dây, huyện thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Cơ quan điều tra thực hiện khám xét nơi ở của Trịnh Quang V, phát hiện thu giữ của V: 01 túi nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng; 02 túi nilon hàn kín bao bì hiệu Crispy Fruit bên trong chứa chất bột. Vào lúc 17 giờ 40 phút ngày 20/8/2020 Cơ quan điều tra thực hiện Lệnh thu giữ khẩn cấp bưu phẩm của V gồm 01 hộp nhựa chứa 46 viên nén màu xanh hình kim cương; 01 hộp nhựa chứa 54 viên nén màu xanh hình kim cương.

Ngoài ra vào tháng 7/2021, V giới thiệu giúp H bán cho T 18,65 gam ma túy loại Ketamine.

Khối lượng các chất ma túy V mua bán là 41,2802 gam ma túy, loại MDMA; 7,1179 gam ma túy, loại MDMA, Methamphetamine; 118,65 gam ma túy loại Ketamine và 100 viên ma túy loại thuốc lắc. Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về việc tính khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự 2015 thì tổng khối lượng 03 chất ma túy mà V thực hiện hành vi mua bán có tỷ lệ 87.9481% thuộc trường hợp dưới 100% nên thuộc điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội danh theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

2.2. Đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo biết rõ việc sử dụng chất ma túy là nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe con người nhưng để thỏa mãn nhu cầu nuôi sống bản thân, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật thực hiện việc bán ma túy cho người khác để kiếm tiền nuôi sống bản thân. Thiết nghĩ, cần xử bị cáo một mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về hình phạt áp dụng cho bị cáo:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội từ 02 lần trở lên, được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, chưa tiền án, tiền sự; quá trình sinh sống bị cáo đã tham gia lực lượng dân phòng từ đầu năm 2020 và tham gia tích cực trong công tác phòng chống dịch covid 19 tại địa phương; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ bị cáo đã ly hôn nên bị cáo thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng như căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Xét thấy, bị cáo sinh ra trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ ly hôn khi bị cáo đang còn nhỏ nên thiếu sự quan tâm chăm sóc, giáo dục của gia đình dẫn đến việc bị cáo dễ dàng phạm tội khi bị rủ rê, lôi kéo; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại đã được niêm phong số 1715/KLGĐ-PC09 ngày 29/8/2021; 01 hộp giấy sọc vàng đen trắng trên hộp có dán băng keo ghi nội dung “Tú 0389255212, 0389255212 Trạm Long Khánh”.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max màu xanh; 01 xe mô tô biển số 60B-733.39, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, số máy KC26E1139478, số khung RLHKC2607GY103446 do liên quan đến hành vi phạm tội.

- Trả lại cho Trịnh Quang V 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại Iphone Xsmax màu vàng, imel 357275094771497 và 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm ngàn đồng) do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

Quan điểm bào chữa của Luật sư cho bị cáo theo luật định về hành vi, tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Riêng quan điểm luật sư cho rằng trong quá trình học tập bị cáo đạt danh hiệu học sinh giỏi nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo có thành tích xuất xắc trong học tập được quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là không được chấp nhận.

Đối với đối tượng tân Lê Cao Mỹ Duyên, ở khu vực quận 4, thành phố Hồ Chí Minh, người tên Trương T H ở khu vực quận 5, thành phố Hồ Chí Minh bán ma túy cho Trịnh Quang V; người tên Thân Văn T còn gọi là “T Xì Trum” ở tổ 4, ấp 9, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, người tên Thu Xinh mua ma túy của Trịnh Quang V và hành vi V bán 100 viên ma túy (thuốc lắc) cho Thân Văn T. Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra đã điều tra, xác minh nhưng không tìm được các đối tượng trên. Tòa án đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh, làm rõ và đề nghị xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về pháp luật: Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Quang V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Quang V 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2021.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại đã được niêm phong số 1715/KLGĐ-PC09 ngày 29/8/2021; 01 hộp giấy sọc vàng đen trắng trên hộp có dán băng keo ghi nội dung “Tú 0389255212, 0389255212 Trạm Long Khánh”.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max màu xanh; 01 xe mô tô biển số 60B-733.39, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, số máy KC26E1139478, số khung RLHKC2607GY103446.

- Trả lại cho Trịnh Quang V 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại Iphone Xsmax màu vàng, imel 357275094771497 và 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm ngàn đồng).

Toàn bộ vật chứng trên được giao qua Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số NK23/008 ngày 11/10/2022 và Giấy nộp tiền tại Kho bạc nhà nước Đồng Nai số 18198067 ngày 08/8/2022.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ