vanban.org

Bản án 167/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đạo Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. [2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589; Điều 589 của Bộ luật dân sự; tiểu mụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đ phạm tội vi phạm ATGT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? [1] Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NH DÂN HUYỆN VIỆT YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2022/HS-ST
Ngày: 27-9-2022

NH DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NH DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nH dân:

1. Ông Nguyễn Văn Chiến

2. Ông Nguyễn Tiến Ngọc

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Tuyên - Thư ký Toà án nH dân huyện Việt Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nH dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nH dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 182/2022/TLST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2022/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Đạo Đ, sinh năm 1974; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Sơn Quả 5, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 7/10; Con ông: Nguyễn Đạo Đa; Con bà: Phạm Thị Tam; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Dương Thị Liên; Bị cáo có 03 con; con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2000; NH tH: Ngày 31/3/2009, bị Tòa án nH dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 10 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; Phạt bổ sung 2.000.000 đồng và buộc nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung, án phí năm 2009, chấp hành xong hình phạt tù 15/4/2017; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Hiện tại ngoại (có mặt).

* Bị hại: Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1988 (có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên án)

Nơi cư trú: Thôn Húi, xã Đan Hội, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn Húi, xã Đan Hội, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Hoàng Thắm T, sinh năm 1996 (có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên án)

Nơi cư trú: Thôn Húi, xã Đan Hội, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1957 (có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên án)

Nơi cư trú: Thôn Húi, xã Đan Hội, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Đạo Đ có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp ngày 15/11/2004. Sáng ngày 16/9/2021, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 98F5- 7326 đi từ thôn Vân Cốc 1, xã Vân Trung ra đường Quốc Lộ 37 hướng xã Vân Trung đi thị trấn Bích Động để về huyện Hiệp Hòa. Khoảng 06 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô đến đoạn đường Quốc lộ 37 kéo dài ở khu vực đầu cầu vượt Quốc lộ 37 qua đường cao tốc Hà Nội-Bắc Giang thuộc địa phận xã Vân Trung, huyện Việt Yên; Đ bật xi nhan trái đồng thời điều khiển xe rẽ trái sang phần đường của phương tiện đi ngược chiều theo hướng thị trấn Bích Động đi xã Vân Trung để tiếp tục đi vào đường một chiều dành cho các phương tiện đi từ đường gom dân sinh cạnh đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang ra đường Quốc lộ 37. Lúc này, Đ thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 98B3- 436.28 do anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1988, ở thôn Húi, xã Đan Hội, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang điều khiển ở phần đường của xe đi ngược chiều hướng thị trấn Bích Động đi xã Vân Trung đi đến nhưng Đ không nhường đường, tiếp tục điều khiển xe mô tô đi sang đường hướng về đường gom dân sinh nên để đầu xe mô tô của mình va chạm vào mặt ngoài cánh yếm bên trái xe mô tô do anh H điều khiển. Sau va chạm, hai xe mô đổ đồng thời Đ và anh H ngã văng xuống mặt đường. Hậu quả, anh H bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, sau đó tiếp tục chuyển đi điều trị thương tích tại Bệnh viện Việt Đức từ ngày 16/9/2021 đến ngày 10/10/2021, Bệnh viện E Hà Nội từ ngày 10/10/2021 đến ngày 26/10/2021 rồi chuyển về Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang điều trị từ 26/10/2021 đến 04/11/2021 thì ra viện, tiếp tục về nhà tự điều trị thương tích.

Sau khi tiếp nhận thông tin vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên đã thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đường Quốc lộ 37 kéo dài thuộc địa phận xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (đoạn đầu cầu vượt Quốc lộ 37). Mặt đường được trải nhựa phẳng, rộng 56,40m được chia thành các làn đường xe chạy lần lượt rộng 14,0m, 5,70m, 4,05m, 8,75m, 3,4m, 5,0m, 14,60m bằng các vạch sơn đứt quãng màu trắng rộng 0,15m. Mặt cầu vượt Quốc lộ 37 rộng 15,50m: đoạn đường rẽ ra đường gom dân sinh và từ đường gom dân sinh đi vào rộng 7,50m. Đoạn đường đi vào xã Vân Trung được chia thành hai chiều đường xe chạy, mỗi chiều đường rộng 11,0m bằng 01 dải pH cách cứng ở giữa đường rộng 4,80m.

Phải trái hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định theo chiều đi từ cầu vượt Quốc lộ 37 (thị trấn Bích Động) đi xã Vân Trung, lấy mép đường nhựa bên phải làm chuẩn và lấy cH cột biển báo Cấm 124a (cấm quay đầu) cắm tại đường rẽ từ đường gom dân sinh đi vào bên phải đường làm mốc. Trên mặt đường để lại:

Xe mô tô, biển số 98F5- 7326 (ký hiệu số 1) đang đổ nghiêng bên trái trên mặt đường; đầu xe hướng cầu vượt Quốc lộ 37, đuôi xe hướng xã Vân Trung. Trục bánh trước cách mép đường bên phải 15,97m; trục bánh sau cách mép đường bên phải 16,74m.

Bãi mảnh nhựa vỡ + giỏ xe (ký hiệu số 2), kích thước (1,0 x 0,30)m, tâm cách mép đường bên phải là 15,20m và cách trục bánh trước của xe mô tô biển số 98F5- 7326 là 1,50m.

Xe mô tô biển số 98B3- 436.28 (ký hiệu số 3) đang đổ nghiêng bên phải trên mặt đường, đầu xe hướng xã Vân Trung, đuôi xe hướng cầu vượt Quốc lộ 37. Trục bánh trước cách mép đường bên phải 27,4m; trục bánh sau cách mép đường bên phải 26,8m và cách trục bánh sau của xe mô tô biển số 98F5- 7326 là 10,80m.

Khoảng cách tính từ trục bánh trước của xe mô tô 98F5- 726 đến cH cột biển báo cấm 124a là 52,30m. Kết thúc khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ 02 xe mô tô để phục vụ quá trình điều tra vụ tai nạn giao thông.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô, nhãn hiệu Exciter, biển số 98B3- 436.28 (màu sơn đen-cam): Xe không có gương chiếu hậu bên phải. Đầu núm tay phanh bên phải bị tỳ nén mài sát mòn kim loại, kích thước (0,02 x 0,01)m. Đầu tay lái bên phải bị tỳ nén mài sát mòn cao su, kích thước (0,04 x 0,03)m. Mặt ngoài đèn xi nhan trước bên phải để lại vết mài sát mòn nhựa, kích thước (0,12 x 0,03)m, tâm cách đất 0,63m. Cánh yếm bên phải bị tì nén mài sát mòn nhựa, mặt ngoài bám dính tạp chất màu tím, kích thước (0,32 x 0,12)m, tâm cách đất 0,64m. Đầu bên phải trục bánh trước để lại vết mài sát mòn kim loại dính bột đá, kích thước (0,02 x 0,01)m. Mặt lăn bánh lốp trước để lại vết mài sát mòn cao su, kích thước (0,70 x 0,04)m, tâm cách cH van 0,12m. Má lốp bên phải bánh lốp trước để lại vết mài sát mòn cao su, kích thước (0,17 x 0,01)m, tâm cách cH van 0,1m. Mép bên phải vành bánh trước để lại vết tì nén mài sát mòn kim loại, kích thước (0,1 x 0,01)m, tâm cách cH van 0,11m. Mặt nạ, cánh yếm trước đầu xe bên trái để lại vết tỳ nén mài sát mòn sơn nhựa, kích thước (0,36 x 0,10)m, tâm cách đất 0,80m.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98F5- 7326 (màu sơn tím): Giỏ xe phía trước bị tỳ nén, bẹp méo, bật rời khỏi xe. Giá đỡ giỏ xe phía trước bị tỳ nén, cong vênh bật khớp nối. Đầu chắn bùn (phía trước) bánh trước bật rời khỏi xe. Má lốp bên phải bánh trước bị tỳ nén mài sát mòn cao su, kích thước (0,22 x 0,04)m, tâm cách cH van 0,42m. Cánh yếm bên phải bị tỳ nén nứt vỡ, khuyết nhựa, mặt ngoài để lại vết mài sát bám dính tạp chất màu đen, kích thước (0,40 x 0,05)m, tâm cách đất 0,73m. Mặt ngoài ốp nhựa đầu xe bị tỳ nén mài sát mòn nhựa, kích thước (0,05 x 0,03)m, tâm cách đất 0,98m. Mặt ngoài giá đỡ giỏ xe để lại vết mài sát mòn nhựa, hở lõi sắt, kích thước (0,20 x 0,13)m.

Ngày 15/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, giám định: Cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên hiện trường và trên phương tiện; vị trí va chạm giữa các phương tiện trên mặt đường; tốc độ của các phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại Bản kết luận giám định số 1778/KL-KTHS ngày 10/11/2021, của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“1. Dấu vết chùn cong, bẹp méo, mài trượt nhựa tại phía trước giỏ xe và giá đỡ giỏ xe của xe mô tô biển số 98F5- 7326 phù hợp với dấu vết trượt xước sơn, nhựa tại mặt ngoài cánh yếm trái của xe mô tô biển số 98B3- 436.28.

2. Dấu vết mài sát cao su, sơn, nhựa, kim loại tại bên phải của xe mô tô biển số 98B3- 436.28 gồm: Đầu tay phanh, đầu tay lái, đèn xi nhan trước, đầu trục bánh trước, cánh yếm được hình thành do quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển số 98B3- 436.28 đổ nghiêng phải, văng rê, các vị trí trên tiếp xúc với vật tày cứng, rộng (như mặt đường) tạo nên là phù hợp.

3. Không đủ căn cứ để xác định vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 98F5-7326 và xe mô tô biển số 98B3- 436.28 trên mặt đường.

4. Ngoài các dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 98F5- 7326 với xe mô tô biển số 98B3- 436.28, trên hai phương tiện không phát hiện dấu vết va chạm với phương tiện khác.

5. Không đủ điều kiện để xác định tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn.”

Tại Công văn số 28A ngày 12/01/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang xác định: Chiều hướng va chạm: Xe mô tô biển số 98B3- 436.28 và xe mô tô biển số 98F5- 7326 trong tư thế đứng, xe mô tô biển số 98F5- 7326 ở phía trước chếch chéo từ trái qua phải theo hướng của xe mô tô biển số 98B3-436.28.

Ngày 20/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên tiến hành thực nghiệm điều tra để xác định phần đường, vị trí va chạm của hai phương tiện trong vụ tai nạn. Kết quả thực nghiệm điều tra, Nguyễn Đạo Đ đã tự mô tô tả, xác định khi xảy ra tai nạn, hai xe đi ngược chiều, đầu xe mô tô biển kiểm soát 98F5-7326 va chạm với phần đầu xe mô tô biển kiểm soát 98B3-436.28, làm cho xe mô tô biển kiểm soát 98F5-7326 đổ nghiêng bên trái, xe mô tô biển kiểm soát 98B3-436.28 đổ nghiêng phải. Điểm va chạm thuộc phần đường dành cho phương tiện theo hướng từ thị trấn Bích Động đi xã Vân Trung thuộc phần đường đi của anh H.

Tại trích sao bệnh án của Bệnh viện Việt Đức Hà Nội; Giấy chứng nhận thương tích số 86/2021/CN ngày 13/12/2021 của Bệnh viện E Hà Nội và bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang xác định tình trạng thương tích lúc vào viện của anh Nguyễn Trọng H: Đa chấn thương: Chấn thương cột sống cổ: Thoát vị C 5,6,7 AIS A. Chấn thương hàm mặt: Gãy xương hàm trên- gãy xương hàm dưới cạnh cằm phải; chấn thương bụng kín: chấn thương gan độ I. Gãy đốt 1 ngón I tay phải. Theo dõi chấn thương sọ não, Glasgow 14 điểm. Thương tích lúc ra viện: Tỉnh, tiếp glassgow 14 điểm; Đau giảm vận động hai tay. Liệt hai cH, tiểu qua sonde, loét vùng vai. Phổi thông khí giảm.

Ngày 14/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên trưng cầu Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang giám định tỷ lệ % tổn thương cơ thể do thương tích gây nên trên cơ thể anh Nguyễn Trọng H.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 383/21/TgT ngày 29/12/2021 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận về thương tích của anh Nguyễn Trọng H: Thương tích vết sẹo vùng tai phải và má phải: 3%. Thương tích vết sẹo cung mày phải: 3%. Thương tích vết sẹo trán phải: 6%. Thương tích vết sẹo mở khí quản trước cổ: 2%. Thương tích vết sẹo mổ cổ trái + Vỡ tH đốt C7 + Vỡ gai ngang bên phải C6, bên trái C7 + Xẹp tH đốt D1(T1) + Khám thần kinh, vận động: Liệt hai tay mức độ nhẹ. Liệt hoàn toàn hai cH: 81%. Thương tích khuyết răng 42: 2%. Thương tích vết sẹo đốt 1 ngón I bàn tay phải + Xquang bàn tay phải: Gãy vát đốt 1 ngón I bàn tay phải, đã cố định bằng xuyên kim, trục thẳng: 4%. Thương tích gãy xương gò má cung tiếp phải: 8%. Thương tích gãy xương hàm trên, xương hàm dưới: 16%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 88%. Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích.

Tại phiếu xét nghiệm sinh hóa máu ngày 16/9/2021 của Trung tâm y tế huyện Việt Yên, xác định trong máu của Nguyễn Trọng H có định lượng Ethanol (cồn) là 50.3 mg/dl. Phiếu đo nồng độ cồn của Công an huyện Việt Yên ngày 16/9/2021 đối với Nguyễn Đạo Đ thể hiện: Trong hơi thở không có nồng độ cồn.

Ngày 15/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên ra Yêu cầu định giá tài sản để xác định giá trị tài sản bị thiệt hại do vụ tai nạn gây ra. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 183 ngày 20/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 98B3-436.28 bị hư hỏng thiệt hại là 1.490.000 đồng, xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 98F5-7326 bị hư hỏng thiệt hại là 1.370.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng thiệt hại là 2.860.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 174/CT-VKS ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nH dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đ và đề nghị Hội đồng xét xử xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Đạo Đ từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 9 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nH dân Tối cao; Nghị định 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị quyết 24/2021/NQ-HĐND ngày 10/8/2021 của Hội đồng nH dân tỉnh Bắc Giang quy định về mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội, đối tượng khó khăn hưởng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Buộc bị cáo phải bồi thường các khoản tiền sau:

Bồi thường cho anh H: 73.170.011 đồng viện phí; Tiền thuê xe đi về các bệnh viện trong quá trình nằm viện và đi khám bệnh: 10.000.000 đồng; Tiền bồi dưỡng và phục hồi sức khỏe: 21.000.000 đồng; Tiền khám trước khi giám định thương tích: 1.349.400 đồng; Tiền mất thu nhập 05 tháng lương: 68.792.262 đồng; Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần: 74.500.000 đồng. Tổng số: 227.811.673 đồng. Ngoài ra, buộc bị cáo hàng tháng phải chịu chi phí nuôi dưỡng và điều trị anh H từ tháng 02/2022 đến khi anh H phục hồi sức khỏe hoặc chết theo mức 3.000.000 đồng đến 3.500.000 đồng/ tháng.

Bồi thường cho chị Hoàng Thắm T là vợ của anh H: Tiền mất thu nhập 05 tháng lương: 30.845.095 đồng. Ngoài ra, hàng tháng phải chi trả tiền hỗ trợ chị T đối với việc chăm sóc anh H mức 360.000 đồng/ tháng tính từ tháng 02/2022 viện đến khi anh H khỏi bệnh hoặc chết.

Về vật chứng, án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đ đã khai nhận rõ hành vi của mình như cáo trạng đã nêu và nhận thức được việc làm của mình là sai, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện theo ủy quyền của bị hại anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ chi phí như bảng đã kê khai chi tiết tại cơ quan điều tra, chi phí tiền tổn thất tinh thần, tiền cấp dưỡng cho anh H và các con anh H.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thắm T yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị tiền mất thu nhập từ ngày 16/9/2021 cho đến nay.

Bà Nguyễn Thị M: Bà không có yêu cầu đề nghị giải quyết gì trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Việt Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nH dân huyện Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đạo Đ tại phiên tòa hôm nay, lời khai của đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Nguyễn Đạo Đ có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định. Khoảng 06 giờ ngày 16/9/2021, tại đoạn đường Quốc lộ 37 kéo dài ở khu vực đầu cầu vượt Quốc lộ 37 qua đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang thuộc địa phận xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Đ điều khiển xe mô tô biển số 98F5-7326 đi theo hướng xã Vân Trung đi thị trấn Bích Động rẽ trái đi sang phần đường của phương tiện đi ngược chiều để tiếp tục đi vào đường ngược chiều dành cho phương tiện đi ngược chiều theo hướng từ đường gom dân sinh ra đường Quốc lộ 37, nhưng không nhường đường cho xe đi ngược chiều, không đi đúng phần đường (vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9; khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ) nên để đầu xe mô tô do Đ điều khiển va chạm với cánh yếm bên trái đầu xe mô tô biển số 98B3-436.28 do anh Nguyễn Trọng H điều khiển ở phần đường của xe đi ngược chiều. Hậu quả, anh H bị thương tích, với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 88%.

Với hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nH dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo Đ theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ.

Xét mức độ lỗi trong vụ án thì thấy: Trong vụ án này lỗi của bị cáo điều khiển xe mô tô không nhường đường cho xe đi ngược chiều, không đi đúng phần đường vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9; khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.

Về nH tH: Bị cáo có nH tH xấu năm 2009 đã từng bị Tòa án nH dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 10 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự.

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo Đ không có.

Với tính chất của hành vi phạm tội, mức độ lỗi của bị cáo, hậu quả của hành vi của bị cáo gây ra cùng với tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nH tH của bị cáo, Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải xử bị cáo hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo mới đảm bảo việc giáo dục riêng, phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Về trách nhiệm dân sự:

8.1. Anh Nguyễn Văn H là anh trai của anh Nguyễn Trọng H, đại diện theo ủy quyền cho anh H, tại phiên tòa yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản tiền: Tiền điều trị thương tích của anh H tại các bệnh viện là 342.141.471 đồng; bồi thường tiền tổn thất về tinh thần, tiền mất thu nhập của người chăm sóc anh H khi điều trị thương tích, tiền cấp dưỡng cho anh H và 02 con nhỏ của anh H theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau:

- Ngày 16/09/2021 cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang: Tồng chi phí là: 10.577.344 đồng.

- Từ ngày 17/9/2021 đến ngày 10/10/2021 tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức: Tổng chi phí là: 120.777.555 đồng.

- Từ ngày 10/10/2021 đến 26/10/2021 tại Bệnh viện E: Tổng chi phí là: 47.594.190 đồng.

- Từ ngày 26/10/2021 đến ngày 04/11/2021 tại bệnh viện đa khoa Bắc Giang: Tổng chi phí là: 9.697.982 đồng.

- Từ ngày 07/11/2021 đến ngày 16/11/2021 tại Bệnh viện huyện Lục Nam: Tổng chi phí là: 12.145.000 đồng.

- Ngày 14/12/2021 đi giám định sức khỏe tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang: Tổng chi phí là: 3.349.000 đồng.

- Tiền ăn người nhà chăm nuôi từ ngày 16/09/2021 đến ngày 16/11/2021 là 8.000.000 đồng.

Tổng tất cả các chi phí ( từ ngày 16/9/2021 đến 14/12/2021) là: 212.141.471 đồng.

- Ngày 31/5/2022 cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang đến ngày 03/6/2022: Tổng chi phí là 28.498.296 đồng.

- Ngày 14/6/2022 đi bệnh viện phục hồi chức năng đến hết ngày 21/6/2022: Tổng chi phí là: 33.978.244 đồng.

- Từ ngày 24/6/2022 chữa thuốc nam tại Lạng Sơn đến ngày 03/9/2022: Tổng chi phí là 73.616.000 đồng.

Tổng các khoản chi phí từ ngày 31/5/2022 đến ngày 03/9/2022 là 136.092.540 đồng.

Như vậy, tổng các khoản anh H yêu cầu bị cáo Đ bồi thường là: 342.141.171 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bị hại anh H sau khi bị tai nạn bị thiệt hại 88% sức khỏe, hiện tại anh H bị liệt từ ngực trở xuống, phải nằm một chỗ và phụ thuộc hoàn toàn vào người khác trong việc sinh hoạt hàng ngày. Do đó, cần áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nH dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm dân sự. Bị hại anh H do anh H đại diện theo ủy quyền yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho anh tổng là 342.141.471 đồng. Xét yêu cầu bồi thường của anh H thì thấy:

1. Chi phí thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của anh H được chấp nhận bao gồm:

* Các chi phí có hóa đơn gồm:

- Ngày 16/9/2021 (Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang): 2.077.344 đồng

- Ngày 17/9/2021 đến 10/10/2021 (Bệnh viện Việt Đức): 56.961.555 đồng.

- Ngày 10/10/2021 đến 26/10/2021 (Bệnh viện E): 8.024.000 đồng

- Ngày 26/10/2021 đến 04/11/2021 (Bệnh viện đa khoa Bắc Giang): 2.469.982 đồng

- Ngày 14/12/2021 (Bệnh viện đa khoa Bắc Giang): 1.349.400 đồng

- Ngày 31/5/2022 đến 03/6/2022 (Bệnh viện đa khoa Bắc Giang): 2.562.296 đồng

- Ngày 14/6/2022 đến 21/6/2022 (Bệnh viện Phục hồi chức năng): 845.244 đồng.

Tổng chi phí có hóa đơn là: 74.290.000 đồng.

* Các chi phí không có hóa đơn:

+ Tiền thuê xe đi các bệnh viện: Từ Bệnh viện Bắc Giang ra bệnh viện Việt Đức là 2.500.000 đồng ngày 16/9/2021; Từ Viện E về Bắc Giang ngày 26/10/2021 là 2.600.000 đồng; Từ Bắc Giang về nhà ngày 4/11/2021 là 1.500.000 đồng; Từ nhà đến bệnh viện Lục Nam và từ Lục Nam về nhà ngày 7/11/2021, ngày 16/11/2021 là 2.000.000 đồng; Từ nhà đến Bệnh viện Bắc Giang và ngược lại ngày 14/12/2021 là 2.000.000 đồng; Từ nhà đến Bệnh viện Bắc Giang là 4.000.000 đồng; Từ nhà đến Bệnh viện chức năng và ngược lại ngày 14/6/2022, ngày 21/6/2022 là 6.000.000 đồng; Từ nhà lên Lạng Sơn và ngược lại ngày 24/6/2022, ngày 3/9/2022 là 8.000.000 đồng. Tổng chi phí tiền thuê xe hết: 28.600.000 đồng. Đây là chi phí thực tế mà anh H phải thuê xe trong quá trình điều trị, tuy anh H không xuất trình được các chứng cứ về việc thuê xe trên. Nhưng Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận khoản tiền này cho anh H.

+ Tiền công mất thu nhập của anh H từ khi bị tai nạn phải nằm viện đến khi phải ra viện (từ tháng 9/2021 đến 01/2022 là 05 tháng): Trung bình tiền lương của anh H: 13.792.262 đồng/tháng : 30 ngày = 460.000 đồng/ ngày. Như vậy 05 tháng = 68.961.000 đồng nên việc anh H yêu cầu tiền công mất thu nhập trong những ngày đi viện là thỏa đáng, cần được xem xét chấp nhận.

+ Các chi phí cứu chữa và công cụ phục vụ cứu chữa được chấp nhận gồm: Ngày 16/9/2021, dụng cụ nẹp cố định cổ 500.000 đồng; Ngày 17/9/2021 đến 10/10/2021 thuốc dụng cụ đồ dùng sử dụng cho điều trị 40.356.000 đồng; Ngày 26/10/2021 đến 04/11/2021 đồ dùng cá nH bỉm, tấm lót: 3.000.000 đồng; Ngày 07/11/2021 đến 16/11/2021 bông băng bỉm, tấm lót: 5.000.000 đồng; Ngày 31/5/2022 đến 03/6/2022 Bỉm, tấm lót khăn ướt 1.500.000 đồng; Ngày 14/6/2022 đến 21/6/2022 bỉm tấm lót khăn ướt: 1.200.000 đồng; Thuê bác sỹ xoa bóp vận động 60 phút/1 ngày 240.000 đồng, tổng là 1.920.000 đồng; Thuê người rửa vết thương, đắp thuốc vùng loét ở mông 50.000 đồng/1 lần/ 1 ngày, tổng 400.000 đồng; Thuê máy tập 1.500.000 đồng. Tổng các khoản chi phí này là 55.376.000đồng. Toàn bộ các khoản tiền này, anh H không cung cấp được các tài liệu chứng cứ liên quan có trong hồ sơ nhưng thấy cần chấp nhận cho anh H khoản tiền này vì đây là chi phí thực tế.

* Chi phí bù đắp tổn thất về tinh thần: Từ ngày 21/6/2022 anh H về nhà nhưng vẫn không hoạt động sinh hoạt bình thường được. Nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận buộc bị cáo phải bồi thường khoản tiền bù đắp về tinh thần cho anh H là 50 lần mức lương cơ sở: 1.490.000 đồng x 50 = 74.500.000 đồng là phù hợp với quy định của tại khoản 2 Điều 590 của Bộ luật dân sự.

* Như vậy, tổng số tiền bị cáo Đ phải bồi thường cho anh H do anh H đại diện theo ủy quyền là: 74.290.000 đồng (tiền chi phí cứu chữa tại các bệnh viện có hóa đơn) + 28.600.000 đồng (tiền thuê xe) + 55.376.000đồng (tiền cứu chữa, thuốc) + 68.961.000 đồng (tiền công mất thu nhập ) + 74.500.000 đồng (tiền tổn thất tinh thần) = 301.727.000 đồng.

2. Các chi phí thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của anh H không được chấp nhận gồm:

Ngày 16/9/2021 Thuốc mua ngoài: 5.500.000 đồng

Ngày 17/9/2021 đến 10/10/2021: 10 hộp sữa bột, 01 hộp có giá 682.000 đồng, tổng 6.820.000 đồng; Sữa RealDiet 231.000 đồng/túi sử dụng hết 72 túi, tổng 16.640.000 đồng.

Ngày 10/10/2021 đến 26/10/2021: 10 hộp sữa bột, 01 hộp có giá 682.000 đồng, tổng 6.820.000 đồng; 02 thùng sữa T: 740.000 đồng; 10 túi đạm sữa Smotkabiven 1000Kcal 1.070.000 đồng/túi, tổng 10.700.000 đồng; Tiền ăn người bệnh ngày 06 bữa súp do bác sỹ chỉ định 35.000 đồng/bữa, tổng 3.360.000 đồng.

Ngày 26/10/2021 đến 04/11/2021: 04 hộp sữ bột Leanmax: 2.728.000 đồng

Ngày 07/11/2021 đến 16/11/2021: Thuốc, đạm sữa: 4.200.000 đồng; Tiền ăn: 945.000 đồng

Tiền ăn người nhà chăm nuôi từ ngày 16/09/2021 đến ngày 16/11/2021: 8.000.000 đồng.

Ngày 31/5/2022 đến 03/6/2022: Thuốc mua ngoài: 6.556.000 đồng; Đạm sữa chuyền 5 túi, 1 túi là 1.300.000 đồng, tổng 6.500.000 đồng; Cơm ngày 03 bữa, 40.000 đồng/1 bữa, tổng 1.080.000 đồng; Thuê người chăm nuôi bệnh 700.000 đồng/1 ngày, tổng 6.300.000 đồng.

Ngày 14/6/2022 đến 21/6/2022: Thuốc tây mua ngoài: 8.156.000 đồng; Thuốc Nam: 3.342.000 đồng; Đạm chuyền 02 túi, 1.300.000 đồng/1 túi, tổng 2.600.000 đồng; Sữa bột uống 3 hộp: 485.000 đồng/1 hộp, tổng là 1.455.000 đồng; Bỉm tấm lót khăn ướt 1.200.000 đồng; Cơm ăn hàng ngày 3 bữa 40.000 đồng/1 bữa, tổng 960.000 đồng; Thuê bác sỹ xoa bóp vận động 60 phút/1 ngày 240.000 đồng, tổng là 1.920.000 đồng; Thuê người rửa vết thương, đắp thuốc vùng loét ở mông 50.000 đồng/1 lần/ 1 ngày, tổng 400.000 đồng; Thuê người chăm bệnh 700.000 đồng/ngày, 8 ngày, tổng 5.600.000 đồng; Thuê máy tập 1.500.000 đồng

Ngày 24/6/2022 đến 3/9/2022: Thuốc uống 50.000 đồng/1 gói/1 ngày, 71 ngày tổng là 3.550.000 đồng; Thuốc đắp 50.000 đồng/1 gói, ngày 3 gói: 10.650.000 đồng; Thuốc ngâm rượu xoa bóp, sao với thuốc đắp 50.000 đồng/1 gói, 13 gói: 6.500.000 đồng; Rượu trắng để ngâm thuốc: 750.000 đồng; Châm cứu 50.000 đồng/1 lần, 71 ngày: 3.550.000 đồng; Thuê nhà ở: 2.500.000 đồng; Sữa bột uống 485.000 đồng/1hộp, 13 hộp, tổng 6.305.000 đồng; Cơm 3 bữa 120.000 đồng/1ngày, tổng 8.520.000 đồng; Thuê người rửa vết thương ở mông 50.000 đồng/1 lần/1 ngày,71 ngày tổng 3.550.000 đồng; Thuốc rửa và bôi loét mông: 7.872.000 đồng; Xoa bóp 1 ngày 60 phút 100.000 đồng, 71 ngày, tổng 7.100.000 đồng.

Tổng số tiền không được chấp nhận là: 170.669.000 đồng.

8.2. Chị Hoàng Thắm T là vợ của anh Nguyễn Trọng H yêu cầu bị cáo bồi thường tiền mất thu nhập của chị khi phải nghỉ việc chăm sóc anh H điều trị thương tích tại bệnh viện và chăm sóc anh H thường ngày sau khi ra viện, tiền cấp dưỡng cho anh H và 02 con nhỏ theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu bồi thường của chị Hoàng Thắm T là vợ của anh H thì thấy:

- Tiền mất thu nhập của người chăm sóc anh H: Chị Hoàng Thắm T vợ anh H trong thời gian anh H nằm viện chị là người trực tiếp chăm sóc cho anh H: Tiền lương trung bình của chị T là 6.169.019 đồng/tháng: 30 ngày = 205.000 đồng/ngày. Như vậy, 05 tháng mất thu nhập của chị T là 30.845.000 đồng.

- Hiện anh H sau khi điều trị mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc. Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc anh H bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc anh H. Chi phí hợp lý cho một người thường xuyên phải chăm sóc anh H sẽ được tính theo tiền công trung bình trả cho người chăm sóc cụ thể chị T là người trực tiếp chăm sóc, chị T sẽ được hưởng mức hỗ trợ của người trực tiếp chăm sóc cho anh H với số tiền 6.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 02/2022 đến khi anh H khỏi bệnh (hoặc chết) theo quy định tại tiểu mục 1.4, mục 1 phần II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nH dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

* Xem xét tiền cấp dưỡng cho anh H và 02 con của anh H: Anh H chỉ bị mất khả năng lao động, chỉ xem xét cấp dưỡng cho người khác trong trường hợp anh H bị chết, nên trong vụ án này yêu cầu cấp dưỡng cho anh H và hai con anh H, Hội đồng xét xử xét thấy không được chấp nhận theo quy định tại Nghị quyết số 03 ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nH dân tối cao.

* Đối với thiệt hại về tài sản: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 98B3-436.28 của anh H bị hư hỏng xác định thiệt hại là 1.490.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền này. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 98F5-7326 là tài sản của bị cáo Nguyễn Đạo Đ; Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 98B3-436.28 là tài sản của anh Nguyễn Trọng H. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo Đ và anh H. Nhưng tạm giữ lại xe mô tô của bị cáo Đ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, áp phí trợ cấp hàng tháng theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người đại diện theo ủy quyền bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đạo Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589; Điều 589 của Bộ luật dân sự; tiểu mục 1.4, mục 1 phần II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nH dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

- Buộc bị cáo Nguyễn Đạo Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Trọng H tổng số tiền là: 301.727.000 đồng (ba trăm linh một triệu bẩy trăm hai bẩy nghìn đồng).

- Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Hoàng Thắm T số tiền là:

30.845.000 đồng (ba mươi triệu tám trăm bốn lăm nghìn đồng).

- Buộc bị cáo phải chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc anh H hàng tháng là 6.000.000 đồng/01tháng (hiện tại chị T là người trực tiếp chăm sóc) kể từ tháng 02/2022 cho đến khi anh H khỏi bệnh hoặc chết.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền được trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

[3] Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại:

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng Đ: 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 98F5-7326. Nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho anh Nguyễn Trọng H: 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 98B3-436.28

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo Nguyễn Đạo Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí trợ cấp hàng tháng và (301.727.000 đồng + 30.845.000 đồng = 332.572.000 đồng) x 5% là 16.629.000 đồng (mười sáu triệu sáu trăm hai chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo; Người đại diện theo ủy quyền của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ