- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆNHÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 167/2019/HS-ST Ngày 22.10.2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Đẹp
Ông Lê Viết Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Triệu - Kiểm sát viên.
Vào ngày 22 tháng 10 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 160/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N - sinh năm: 1973 tại Thành phố Z; Thường trú: 140/8 Cách Mạng Tháng 8, (số mới 268/19 Nguyễn Thái Bình) phường X, quận Y, Tp.Z; Chỗ ở hiện nay: 68/8B ấp Hậu Lân, xã E, huyện F, Tp.Z; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị H (chết); Hoàn cảnh gia đình: có vợ Nguyễn Thị T và 04 con (con lớn nhất năm 1999, con nhỏ nhất năm 2018); tiền án, tiền sự: không có; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10.4.2019 đến nay, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 10.4.2019, lực lượng Công an xã E kiểm tra hành chính tại trước nhà số 68/8B ấp Hậu Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn N ném qua cửa sổ sang nhà đối diện 01 hộp kim loại màu đồng và đen bên trong có 07 đoạn ống hút nhựa chứa chất bột màu trắng. Công an đã lập biên bản quả tang thu giữ tại chỗ và niêm phong lập hồ sơ xử lý.
Sau đó Công an khám xét khẩn cấp tại nơi ở của N tại địa chỉ trên thu giữ 10 gói nylon chứa tinh thể không màu ở dưới nệm giường trong phòng ngủ của N, 01 đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng trong phòng ngủ của N cùng một số đồ vật dùng để phân ma túy.
Qua Kết luận giám định số 883/KLGĐ-H ngày 17.4.2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Gói 1: Bột màu trắng trong 07 đoạn ống nhựa cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3372g, loại Heroine.
- Gói 2: Tinh thể không màu trong 10 gói nylon cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,6938g, loại Methamphetamine.
- Gói 3: Bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0517g, loại Heroine.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, N khai nhận bản thân nghiện ma túy N sử dụng cả 02 loại ma túy Heroine và Methamphetamine. Số ma túy 0,3889 gam Heroine thu giữ của N mua của người thanh niên (chưa xác định lai lịch) ở khu vực ngã tư An Sương với giá 1.300.000 đồng đem về cất giấu sử dụng còn khối lượng 3,6938 gam là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine thu giữ trong phòng của N là của người nghiện tên Bé Tư (chưa xác định lai lịch) là em quen ngoài xã hội được N cho ở nhờ mua về để cất giấu trong phòng của N cùng N sử dụng.
Vật chứng thu giữ:
- 03 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ số 883.
- 01 cân tiểu ly, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 đoạn ống nhựa cắt nhọn 01 đầu, 01 đầu bịt kín, một số bịch nylon loại nhỏ bên trong không có gì, 01 cây kéo, 01 hộp kim loại.
- 01 điện thoại di động Nokia;
Tại bản Cáo trạng số 157/CT-VKS-HS ngày 17.9.2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tại phiên toà Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị xử phạt:
Nguyễn Văn N mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 03 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ số 883 đây là vật không có giá trị sử dụng.
Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 cân tiểu ly, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 đoạn ống nhựa cắt nhọn 01 đầu, 01 đầu bịt kín, một số bịch nylon loại nhỏ bên trong không có gì, 01 cây kéo, 01 hộp kim loại là vật không có giá trị sử dụng.
Ñeà nghò tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ;
Sau khi nghe lời khai nhận tội của bị cáo;
Sau khi nghe ý kiến tranh luận và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo cũng không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án:
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn N đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an huyện Hóc Môn, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bỡi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo do lười lao động thích được hưởng thụ nên đã sớm đi vào con đường nghiện ngập.
Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy…. là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật.
Vào ngày 10.4.2019 bị cáo Nguyễn Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân với khối lượng 0,3889 gram loại Heroine và khối lượng 3,6938 gram loại Methamphetamine thì bị công an bắt quả tang cùng với tang vật.
Do đó, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo và cần thiết phải có một khoảng thời gian cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ con đường nghiện ngập và phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, gia đình bị cáo có công với cách mạng (theo Quyết định của Giám đốc sở Lao động-Thương Binh và xã hội về việc trợ cấp người bị địch bắt tù đày số 7792/LĐ-TBXH ngày 30.9.2005) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và xét hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 03(ba) gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ số 883 qua giám định có tổng khối lượng 0,3889 gram loại Heroine và 3,6938 gram loại Methamphetamine là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 cân tiểu ly, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 đoạn ống nhựa cắt nhọn 01 đầu, 01 đầu bịt kín, một số bịch nylon loại nhỏ bên trong không có gì, 01 cây kéo, 01 hộp kim loại là vật không có giá trị nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia đây là tài sản riêng của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo nhưng giao cho cơ quan thi hành án tạm giữ để đảm bảo cho thi hành án.
Riêng đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo và đối tượng Bé Tư, do không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở truy cứu, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Các lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung truy tố tại bản Cáo trạng, một phần quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt :
Bị cáo Nguyễn Văn N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 10.4.2019.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 03(ba) gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ số 883 qua giám định có khối lượng 0,3889 gram loại Heroine và 3,6938 gram loại Methamphetamine; 01 cân tiểu ly, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 đoạn ống nhựa cắt nhọn 01 đầu, 01 đầu bịt kín, một số bịch nylon loại nhỏ bên trong không có gì, 01 cây kéo, 01 hộp kim loại.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia nhưng giao cho cơ quan thi hành án tạm giữ để đảm bảo cho thi hành án.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 164/LNK-CSĐT-MT ngày 26.8.2019 của Công an huyện Hóc Môn.)
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND TPHCM; - Viện kiểm sát H.Hóc Môn; - Thi hành án H.Hóc Môn; - Công an huyện Hóc Môn; - Bị cáo; - Lưu . | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Anh Phong |