- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 167/2018/HSST Ngày 28 - 12 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tập và bà Nguyễn Thị Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Viết Tâm, Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 169/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Văn S, sinh ngày 05 tháng 11 năm 1988, tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ 10, khu Lạc Thanh, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K và bà Vũ Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 03/10/2018; tạm giam ngày 09/10/2018; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
Những người chứng kiến:
1) Ông Hoàng Văn H; sinh năm 1958; địa chỉ: tổ 33, khu 9, phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
2) Ông Cao Văn R; sinh năm 1964; địa chỉ: tổ 10, khu Lạc Thanh, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 02/10/2018, Tổ công tác Công an phường Quang Trung phối hợp cùng Công an phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí trong khi làm nhiệm vụ tại tổ 3, khu 1, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã phát hiện bắt quả tang Phạm Văn S có hành vi tàng trữ chất nghi là ma túy. Vật chứng thu giữ: Trong túi quần phía trước bên trái của S đang mặc 01 túi vải màu xanh kích thước (7x9)cm, bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước (1,5x1,5)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, Sơn khai nhận đó là ma tuý loại “đá”, Sơn mua với mục đích để sử dụng. Túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng đã được niêm phong. Ngoài ra, Công an còn thu giữ của Sơn: 01 điện thoại di động màu vàng, mặt trước điện thoại có ghi chữ “VERTU”, bên trong có sim số 0979669060.
Tại bản Kết luận giám định số 629 ngày 04/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine; khối lượng: 0,316g (không phẩy ba một sáu gam).
Quá trình điều tra, Phạm Văn S khai: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 23 giờ ngày 02/10/2018, khi đang làm việc tại quán cầm đồ “Mạnh Cường” thuộc tổ 3, khu 1, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, S điện thoại cho một người tên Hùng (không biết tuổi, địa chỉ cụ thể) để hỏi mua ma túy. Sơn nói với Hùng muốn mua một túi ma túy loại “đá”, với giá 300.000đ, nhưng trả tiền sau, Hùng đồng ý và nói sẽ có người xuống đưa ma túy cho S. Khoảng 15 phút sau thì có 01 xe taxi (không rõ biển kiểm soát và hãng xe) đi đến đỗ trước cửa quán của S, từ trên xe có 01 nam thanh niên ngồi ở ghế phụ kéo cửa kính xuống và ném 01 vật màu xanh xuống nền đường, hướng trước cửa quán. Sau đó xe taxi đi đâu S không rõ. Sơn đến nhặt lên 01 túi vải màu xanh và nắm thử qua lớp vải thấy bên trong có vật dạng ma túy đá. S cất giấu túi vải vào trong túi quần phía trước bên trái, định quay lại quán thì ngay lúc này bị lực lượng Công an phát hiện kiểm tra và thu giữ vật chứng số ma túy trên.
Giai đoạn điều tra, các ông Hoàng Văn H và Cao Văn R đều có lời khai về toàn bộ nội dung sự việc mình đã trực tiếp chứng kiến Công an kiểm tra phát hiện bị cáo tàng trữ ma túy trên người thì bị bắt quả tang như nội dung nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSUB ngày 04 tháng 12 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị can Phạm Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố: hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị: xử phạt bị cáo Phạm Văn S từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt (ngày 03/10/2018); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu và tiêu hủy: 0,25g (không phẩy hai năm gam) ma túy hoàn lại sau giám định; Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động màu vàng, mặt trước điện thoại có ghi chữ “VERTU” bên trong gắn sim số 0979669060.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội phạm: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là các ông Hoàng Văn H và Cao Văn R đã khai báo: trực tiếp chứng kiến sự việc bị cáo đang tàng trữ ma tuý trên người thì bị bắt quả tang; quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản, giao nhận vật chứng và giám định đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, trung thực và có cơ sở khoa học; phù hợp với vật chứng bị thu giữ và bản Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,316g (không phẩy ba một sáu gam) cùng những tại liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo không được phép tàng trữ ma túy theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 02/10/2018, tại tổ 3, khu 1, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Văn S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,316g (không phẩy ba một sáu gam) ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phường Quang Trung phối hợp cùng Công an phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh phát hiện bắt quả tang.
Methamphetamine là chất ma túy rất độc, bị Nhà nước tuyệt đối cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng theo quy định tại Nghị định số: 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo là có cơ sở pháp luật.
Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…
c) …Methamphetamine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”…
Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an xã hội, làm bất bình trong quần chúng nhân dân địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm lan truyền bệnh tật và các tệ nạn xã hội khác.
Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.
Về hình phạt: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và khối lượng ma tuý bị cáo đã tàng trữ (0,316 gam - gần mức khởi điểm của khung hình phạt bị truy tố), Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, nhưng có nhân thân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, lại có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, song vẫn cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, không những nhằm trừng trị mà còn để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội, cảnh báo, răn đe với những người khác, đáp ứng được mục đích của hình phạt.
Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng… hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau khi giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu và tiêu hủy. Chiếc điện thoại di động ghi chữ “VERTU” gắn sim mang số 0979.669.060, giai đoạn điều tra bị cáo khai dùng để liên lạc mua ma tuý, nhưng khi kiểm tra điện thoại không tìm thấy lịch sử cuộc gọi và tin nhắn cho người khác, tại phiên toà bị cáo khai không dùng điện thoại này để liên lạc mua ma tuý nên Hội đồng xét xử không lấy lời khai duy nhất của bị cáo trong giai đoạn điều tra để xét xử gây bất lợi cho bị cáo, vì vậy cần trả lại cho bị cáo tài sản này.
Đối tượng tên Hùng bị cáo hỏi mua ma tuý và đối tượng nam thanh niên trên xe tắc xi đưa ma tuý cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được danh tính và địa chỉ cụ thể, nên không có cơ sở để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 03/10/2018).
3. Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 629/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.
4. Trả lại cho bị cáo Phạm Văn S 01 (một) điện thoại di động màu vàng, mặt trước điện thoại có ghi chữ “VERTU” gắn bên trong 01 (một) sim mang số 0979.669.060.
Tình trạng những vật chứng nêu trên theo Biên bản giao vật chứng ngày 26/12/2018 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
5. Buộc bị cáo Phạm Văn S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP. Uông Bí; - Công an TP. Uông Bí; - TAND T. Quảng Ninh; - VKSND T. Quảng Ninh; - THADS TP. Uông Bí; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ; Lưu TA.(Th. L 09) | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Lâm |