vanban.org

Bản án 1664/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị L được ly hôn ông Nguyễn Thanh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1664/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29- 5-2023
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đăng Vạn

2. Bà Nguyễn Thị Thu

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân - Thư ký Tòa

án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ

Đức - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia

đình sơ thẩm thụ lý số 251/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 về

việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2019/2023/QĐXXST-

HNGĐ ngày 05/5/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1991 ( có mặt)

Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: 9/6/7 đường 1, tổ 4, khu phố P, phường T, thành phố Thủ Đức.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: Nhà không số, đường 2, tổ 5, khu phố P, phường T, thành phố

Thủ Đức.

NHẬN THẤY:

Trong đơn xin ly hôn ngày 31/01/2023 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn

là bà Lê Thị L trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thanh T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2020

và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh

Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05/2020 ngày 20/01/2020. Cuộc sống

chung hạnh phúc bình thường đến cuối năm 2020 phát sinh nhiều mâu thuẫn.

Nguyên nhân do tính tình hai bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm lối sống, không ai hiểu ai, thường xuyên cãi nhau. Bà cố gắng chịu đựng và gia đình hai bên hòa giải hàn gắn nhưng đều không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và đôi bên sống ly thân từ tháng 10/2021 cho đến nay. Bà nhận thấy tình cảm hai bên không còn, không thể hàn gắn và tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà và ông T không có con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Nợ chung: Không có.

Bị đơn là ông Nguyễn Thanh T dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng

vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng cũng như không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông T; Không có

con chung; không có tài sản chung; không có nợ chung.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của

Thẩm phán, hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ

án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn: Bà L được ly hôn ông T; Con chung không có; Tài sản chung, nợ chung không có. Bà L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà L yêu cầu

ly hôn với lý do cuộc sống chung giữa hai vợ chồng không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn và ông T cư trú tại phường T, thành phố Thủ Đức. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

.Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Thanh T đã được triệu tập

hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Bà Lê Thị L và ông Nguyễn Thanh T đã được Ủy ban nhân dân xã

Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau cấp Giấy chứng nhận kết hôn số

05/2020 ngày 20/01/2020. Như vậy hôn nhân giữa bà L và ông T là hợp pháp.

Theo lời khai của bà L thì vợ chồng bà tự nguyện đăng ký kết hôn với

nhau vào năm 2020. Cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn giữa vợ chồng về

tính tình, lối sống, thường xảy ra cãi vã và đã ly thân từ tháng 10 năm 2021 đến

nay.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý

vụ án hôn nhân gia đình do bà Lê Thị L là người khởi kiện yêu cầu ly hôn với

ông Nguyễn Thanh T. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ

theo quy định của pháp luật cho ông T đến Tòa án để ghi lời khai, hòa giải

nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ ông T không có

thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thực sự coi trọng tình nghĩa vợ

chồng.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định: “Vợ chồng có

nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;

cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…Vợ chồng có nghĩa

vụ sống chung với nhau…”

Xét quá trình sống chung giữa đôi bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, vợ

chồng không còn tình cảm, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau

là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm

vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà L yêu

cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông T là có cơ sở giải quyết.

Về con chung: Bà L khai không có con chung. Ông T cũng không

có ý kiến gì về việc có con chung.

Về tài sản chung: Bà L khai không có tài sản chung. Ông T cũng

không có ý kiến gì về việc có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà L khai không có nợ chung. Ông T cũng không có ý

kiến gì về việc có nợ chung.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Lê Thị L phải

nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp theo

Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0007949 ngày 09/02/2023 của Chi

cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ những nhận định và phân tích trên, xét thấy đề nghị của kiểm sát viên

tại phiên tòa là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị L được ly hôn ông Nguyễn Thanh T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 05/2020 ngày 20/01/2020 do Ủy ban nhân

dân xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau cấp cho bà Lê Thị L và ông Nguyễn Thanh T không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

[5] 2. Về án phí: 300.000 đồng bà Lê Thị L phải nộp nhưng được cấn trừ

vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0007949 ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ