vanban.org

Bản án 166

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 22/08/2018 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/08/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lý Đình C - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

A ÁN N N N

N

A

N A V

NAM

N

N

Á

c p –

o – nh h c Bản án số: 166 /2018/HS-PT Ngày: 22-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC C NG HÒA XÃ H I CH N A V T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T N

NG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô n i

Các thẩm phán: Ông Huỳnh Thanh Mỹ

Ông inh hí âm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n n Ngh a - Th

Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà ưu h y Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án hình sự ph c th m thụ lý số: 133/2018/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo Đ nh C.

Do có háng cáo c a ị cáo C và háng cáo c a đại diện hợp pháp ị hại Nguyễn Thị B là anh Phạm Văn Th đối với ản án h nh sự sơ th m số 04/2018/HS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2018 c a Tòa án nhân dân huyện T.

- Bị cáo có kháng cáo:

ý ình , sinh năm 1981; Tên gọi hác: Không; Nơi sinh: tỉnh Kiên Giang; Nơi c tr số 8x/46, đ ờng N, ph ờng V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Tài xế; Tr nh độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tấn P, sinh năm 1956 (chết) và à Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1957; Vợ Trịnh Thị Thanh X, sinh năm 1991 (đã ly hôn năm 2015) và có 01 ng ời con sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không; ệnh cấm đi hỏi nơi c trú số: 06/CĐKNCT ngày 24 tháng 01 năm 2018. Bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo:

Ph m Văn h, sinh năm 1978 (có mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện T, Đồng Tháp.

Anh Phạm Văn Th là ng ời đại diện theo y quyền c a: ông Phạm Văn , sinh năm 1940; anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1971, cùng địa chỉ: ấp T, xã P, huyện T, Đồng Tháp; chị Phạm Thị H1, sinh năm 1965, địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và anh Phạm Văn B1, sinh năm 1978, địa chỉ: Ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Ngoài ra, trong v án người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không kháng cáo và Viện ki m sát không kháng nghị.

N

N V ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm t t nh sau:

Vào khoảng 03 giờ ngày 01/01/2018, bị cáo Đ nh C điều khiển xe ô tô biển số 60A-404.4x chở Nguyễn Thị Thu T từ đ ờng Ng, ph ờng P, Quận x, thành phố Hồ Chí Minh đi Núi S, thành phố C, tỉnh An Giang. Đến 06 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe ô tô đến địa phận thuộc ấp A1, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thì lạc tay lái lấn sang phần đ ờng ên trái đụng vào bà Nguyễn Thị B đang đi bộ cặp lề trái ng ợc chiều với xe ô tô. Hậu quả bà B tử vong tại chỗ, xe ô tô bị h hỏng bên trái phần đầu xe, sau khi gây tai nạn bị cáo đến Công an xã P đầu thú.

Tại cơ quan điều tra bị cáo

Đ nh C khai vào khoảng 21 giờ ngày 31/12/2017, bị cáo cùng nhóm bạn tài xế tên T1 và T2 (không rõ họ và địa chỉ) tổ chức uống r ợu, bia tại vĩa hè Quận xx, thành phố Hồ Chí Minh, trong lúc uống r ợu, bia bị cáo nhìn thấy 01 chai n ớc màu tr ng (loại chai nhựa có đặc điểm giống chai n ớc xúc miệng listerine khoảng 80ml) không biết loại n ớc gì pha vào ly r ợu c a các bạn c a bị cáo, nh ng ị cáo không nhìn thấy pha vào ly r ợu c a bị cáo, khi uống r ợu, bia xong thì bị cáo có biểu hiện nhức đầu và chóng mặt nên bỏ ra về. Sau đó, ị cáo điều khiển xe ô tô biển số 60A-404.4x chở T đến địa phận ấp A1, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thì ng gật, lạc tay lái sang phần đ ờng bên trái đụng bà Nguyễn Thị B đang đi ộ dẫn đến tử vong.

Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện tr ờng vụ tai nạn giao thông ngày 01/01/2018 c a Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, thể hiện: Hiện tr ờng xảy ra tai nạn là đ ờng hai chiều, không có dãi phân cách, có vạch kẻ tim đ ờng đứt quãng, đ ờng thẳng, tầm nh n thông thoáng, hông có ch ớng ngại vật, không có biển báo hiệu khu vực đông dân c . Mặt đ ờng có rãi nhựa, rộng 6,60m, tất cả số liệu lấy lề phải h ớng từ xã H, huyện Th đi thị trấn T, huyện T làm chu n, từ vạch kẻ đ ờng đứt quãng đo vào lề chu n 3,07m, điểm đụng đo vào lề chu n 5,92m . Nh vậy bị cáo điều khiển xe ô tô lấn sang phần đ ờng bên trái 2,85m gây tai nạn.

Căn cứ biên bản khám xe ô tô biển số 60A-404.4x thể hiện: Cảng xe phía tr ớc bên trái bị gãy rời; đầu xe phía tr ớc bên trái có vết bể, vỡ, thụng; đèn chiếu sáng phía tr ớc ên trái, đèn chuyển h ớng phía tr ớc bên trái bể kích th ớc 106cm x 70cm, điểm cao nhất cách mặt đất 104cm và dính dấu vết màu vàng ích th ớc 100cm x 60cm, điểm cao nhất cách mặt đất 97cm. Nấp capo phía tr ớc bên trái bị thụng vào trong ích th ớc 110cm x 80cm, đầu vết cách mặt đất 110cm; phanh tay, chân còn tác dụng; còi còn tác dụng; đèn chuyển h ớng còn tác dụng; đèn chiếu sáng bên phải còn tác dụng, bên trái không còn tác dụng; đèn s ơng mù còn tác dụng.

Căn cứ kết luận giám định pháp y về tử thi số 10/TTh - TTPY ngày 01/01/2018 c a Trung tâm pháp y – Sở y tế Đồng Tháp đối với Nguyễn Thị B, sinh năm 1942, địa chỉ: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nguyên nhân chết do: Xuất huyết não, gãy đốt sống cổ, đa chấn th ơng.

Căn cứ kết luận giám định số 14/KL-KTHS ngày 08/01/2018 c a Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp nh sau: Mẫu n ớc tiểu chứa trong 2 hộp nhựa, ghi thu c a ông Đ nh C, sinh năm 1981, đ ợc niêm phong nêu trên gửi giám định có chứa thành phần chất ma túy TFMPP (số thứ tự 114, Danh mục II, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 c a Chính ph ).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2018/HS-ST ngày 22/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Đ nh C phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 54 c a Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đ nh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị b t đi thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về x lý v t ch ng, án phí và quyền kháng cáo theo lu t định.

Ngày 28 tháng 5 năm 2018, ị cáo Đ nh C có đơn háng cáo với nội dung xin đ ợc h ởng án treo.

Ngày 28 tháng 5 năm 2018, anh Phạm Văn Th đại diện hợp pháp c a bị hại có đơn háng cáo với nội dung xem xét cho bị cáo Đ nh C đ ợc h ởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo c a ị cáo Đ nh C về việc xin đ ợc h ởng án treo và không chấp nhận kháng cáo c a anh Phạm Văn Th đại diện hợp pháp c a bị hại về việc xem xét cho bị cáo C đ ợc h ởng án treo, giữ nguyên quyết định c a bản án hình sự sơ th m, do mức hình phạt mà án sơ th m đã áp dụng đối với bị cáo là nhẹ sau hi đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đã áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo, đồng thời bị cáo C cũng không cung cấp thêm tình tiết mới có đ cơ sở để đ ợc xem xét đ ợc h ởng án treo, ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã đ ợc Tòa án cấp sơ th m xem xét, giải quyết. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận việc Tòa án cấp sơ th m áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo tự thú theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 do là hông đ ng mà phải là tình tiết ng ời phạm tội đầu th theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; ngoài ra việc Tòa án cấp sơ th m áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo là phạm tội đối với ng ời đ 70 tuổi trở lên theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 là không đ ng, do trong vụ án này bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với bị hại với lỗi vô ý, nên không áp dụng tình tiết tăng nặng này đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận ị cáo Đ nh C và đại diện hợp pháp c a bị hại anh Phạm Văn Th không tranh luận với quan điểm c a Kiểm sát viên nh nêu trên. Bị cáo C chỉ yêu cầu Hội đội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đ ợc h ởng án treo do hoàn cảnh gia đ nh ị cáo hó hăn, ị cáo đã ly hôn vợ, là lao động chính gia đ nh nuôi mẹ già, phải cấp d ỡng nuôi con nhỏ; anh Phạm Văn Th đại diện hợp pháp c a bị hại yêu cầu Hội đội đồng xét xử xem xét cho bị cáo C đ ợc h ởng án treo.

N N N

A A ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

[1] Tại phiên tòa bị cáo Đ nh C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình phù hợp với nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Thể hiện: Vào khoảng 03 giờ ngày 01/01/2018, bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 60A-404.4x chở Nguyễn Thị Thu T từ đ ờng Ng, ph ờng P, Quận x, thành phố Hồ Chí Minh đi Núi S, thành phố C, tỉnh An Giang. Đến 06 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe ô tô đến địa phận thuộc ấp A1, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thì lạc tay lái lấn sang phần đ ờng bên trái 2,85m đụng vào bà Nguyễn Thị B đang đi bộ cặp lề trái ng ợc chiều với xe ô tô. Hậu quả bà B tử vong tại chỗ, xe ô tô bị h hỏng bên trái phần đầu xe, bị cáo đến Công an xã P đầu thú. Theo kết luận giám định số 14/KL-KTHS ngày 08/01/2018 c a Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp mẫu n ớc tiểu thu c a bị cáo C có chứa thành phần chất ma túy TFMPP (số thứ tự 114, Danh mục II, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 c a Chính ph ).

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi c a ị cáo C là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến tính mạng, sức hỏe c a ng ời hác, gây nên hậu quả nghiêm trọng làm cho bà Nguyễn Thị B ị chết, làm cho thân nhân ng ời ị hại vĩnh viễn mất đi ng ời thân hông lấy g ù đ p đ ợc đồng thời gây mất trật tự an toàn giao thông, đây cũng là nỗi quan tâm chung c a toàn xã hội hiện nay. Bị cáo phải nhận thức đ ợc xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, việc tham gia giao thông phải tuân th nghiêm ngặt quy định pháp luật về giao thông đ ờng ộ, ngoài ra ị cáo đã sử dụng ma t y nên phải nhận thức đ ợc pháp luật cấm việc tham gia giao thông nh ng ị cáo vẫn xem th ờng ỷ c ơng pháp luật và sự an toàn tuyệt đối hi tham gia giao thông. Trong vụ án này ị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô , hông mong muốn hậu quả xảy ra, nh ng ị cáo phải nhận thức đ ợc hành vi c a m nh sẽ gây nguy hiểm cho xã hội, nên ị cáo phải chịu trách nhiệm h nh sự do hành vi phạm tội c a m nh gây ra. Cần thiết phải cách ly ị cáo ra hỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đ sức răn đe, giáo dục ị cáo trở thành công dân có ích cho gia đ nh và xã hội, đồng thời cũng phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[3] Tòa án cấp sơ th m đã xét xử ị cáo C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đ ợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 (viết t t là Bộ luật hình sự năm 2015) là đ ng ng ời, đ ng tội và có căn cứ. Việc Tòa án cấp sơ th m áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đồng thời áp dụng Điều 54 c a Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt d ới mức thấp nhất c a khung hình phạt đ ợc áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở. Tuy nhiên việc Tòa án cấp sơ th m áp dụng tình tiết giảm nhẹ là ng ời phạm tội tự th theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 là hông đ ng mà phải là tình tiết ng ời phạm tội đầu thú theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; ngoài ra Tòa án cấp sơ th m không áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 là thiếu sót mặc dù bản án sơ th m có nhận định việc đại diện hợp pháp c a bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và hoàn cảnh gia đ nh ị cáo hó hăn. Mặt khác việc Tòa án cấp sơ th m áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo phạm tội đối với ng ời đ 70 tuổi trở lên theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 là hông đ ng, do trong vụ án này bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với bị hại với lỗi vô ý, nên không áp dụng tình tiết này đối với bị cáo. Bên cạnh đó việc Tòa án cấp sơ th m không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo về việc cấm bị cáo điều khiển xe ô tô trong thời hạn nhất định theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt trong vụ án này là ch a thỏa đáng, nh ng do Viện kiểm sát không kháng nghị, đại diện bị hại không kháng cáo về việc này, nên Tòa án cấp phúc th m không áp dụng do có lợi cho bị cáo. Tòa án cấp sơ th m cần rút kinh nghiệm về các sai sót trong áp dụng pháp luật nh nêu trên.

[4] Xét thấy mức h nh phạt mà án sơ th m đã tuyên đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp tính chất, mức độ nguy hiểm c a hành vi phạm tội do bị cáo gây ra sau hi đã cân nh c, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và đã áp dụng Điều 54 c a Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt d ới mức thấp nhất c a khung hình phạt đ ợc áp dụng cho ị cáo. Bị cáo Đ nh C háng cáo xin đ ợc h ởng án treo và anh Phạm Văn Th đại diện hợp pháp c a bị hại Nguyễn Thị B cũng háng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo C đ ợc h ởng án treo, tại phiên tòa bị cáo C nêu ra hoàn cảnh gia đ nh ị cáo khó hăn, nh ng không có đ cơ sở để xem xét cho bị cáo đ ợc h ởng án treo, vì các tình tiết này đã đ ợc Tòa án cấp sơ th m xem xét. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận háng cáo c a ị cáo C và kháng cáo c a ông Phạm Văn Th đại diện hợp pháp c a bị hại. Vì vậy giữ nguyên quyết định ản án sơ th m về phần h nh phạt đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên cần điều chỉnh việc áp dụng pháp luật nh đã phân tích tại mục [3] cho phù hợp.

[5] Từ những nội dung trên, xét đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp pháp luật, nên đ ợc Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[6] Do kháng cáo c a bị cáo C hông đ ợc chấp nhận, nên ị cáo phải chịu án phí hình sự phúc th m. Anh Phạm Văn Th đại diện hợp pháp c a bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc th m.

Các phần hác c a quyết định ản án sơ th m hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

V các lẽ trên,

Q YẾ

N :

Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Không chấp nhận háng cáo c a ị cáo Đ nh C về việc xin đ ợc h ởng án treo;

- Không chấp nhận háng cáo c a anh Phạm Văn Th là đại diện hợp pháp c a bị hại về việc xin cho bị cáo Đ nh C đ ợc h ởng án treo.

Giữ nguyên quyết định c a ản án h nh sự sơ th m về h nh phạt.

Tuyên bố bị cáo Đ nh C phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 c a Bộ luật Hình sự năm 2015 đ ợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đ nh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Các phần khác c a quyết định ản án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Về án phí: Bị cáo Đ nh C phải chịu 200.000 đồng án phí h nh sự ph c th m.

Bản án ph c th m có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

M

N

M

M

N

M N i nh n:

M ÁN –

A

N A

t

Cỡ chữ