vanban.org

Bản án 166/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 22/10/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo: Lo Văn M đã phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Lo Văn M: 24(Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày: 13/8/2025 2/ Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo có hạn kháng cáo hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lo Văn Mằn - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 199 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo: Lo Văn M đã phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 166/2025/HSST
Ngày: 22/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Vĩnh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Tuấn

Bà Nguyễn Thị Nga

Thư ký toà án - ghi biên bản phiên toà:

- Bà Nguyễn Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên toà:

- Ông Nguyễn Văn Bách – Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 10 năm 2025, tại Phòng xử trực tuyến tại Trụ sở Tòa án nhân khu vực 5 – Hà Nội, Tòa án nhân khu vực 5 – Hà Nội xét xử sơ thẩm theo hình thức trực tuyến đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2025/HSST-TL ngày: 02/10/2025 đối với bị cáo có lý lịch sau:

Họ và tên: Lo Văn M. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 05 tháng 7 năm 1998, tại: Nghệ An. Nơi thường trú: Bản V, xã N, tỉnh Nghệ An.Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Ơ Đu. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 10/12. Họ tên bố: Lo Văn D. Sinh năm 1968. Họ tên mẹ: Cụt Thị B. Sinh năm 1975. Gia đình có ba chị em, đối tượng là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không. Theo danh chỉ bản số 2358 ngày 22/8/2025 của PC11B (Long Biên) bị cáo Lo Văn M có nhân thân như sau:

Nhân thân bị can: Tiền sự

-

Quyết định số 208/2023/QĐ-TA ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, Nghệ An về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lo Văn M. Giấy chứng nhận cấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 86/CN-CSCN của Cơ sở cai nghiện bắt buộc số III – tỉnh Nghệ An xác định Lo Văn M chấp hành xong ngày 12/9/2024.

-

Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 199/QĐ-UBND ngày 16/9/2024 của UBND xã N đối với Lo Văn M với thời hạn quản lý từ 16/9/2024 đến 16/9/2026.

Bị can bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 13/8/2025, tạm giam từ ngày 22/8/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 02 – Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người trợ giúp pháp lí: Bà Nguyễn Bích Huyền thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09h00’ ngày 13/8/2025, tổ công tác Công an xã Bát Tràng trong quá trình kiểm tra kiểm soát tại khu vực đường gom 5B thuộc địa phận Ngọc Động, xã B, Hà Nội phát hiện Lo Văn M có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Tại chỗ, Lo Văn M khai nhận ngày 10/8/2025 có sử dụng ma túy Heroine bằng hình thức chích. Tổ công tác đã lập biên bản và đưa đối tượng Lo Văn M về trụ sở để làm rõ.

Tại cơ quan Công an, Lo Văn M khai nhận: Bản thân Lo Văn M nghiện ma túy Heroine từ năm 2017 đến nay. Ngày 27/9/2023, M bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến ngày 12/9/2024 thì chấp hành xong. Sau khi chấp hành xong thì trở về địa phương, M đang bị UBND xã N quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú với thời hạn quản lý từ 16/9/2024 đến 16/9/2026 nhưng M không chấp hành và ra Hà Nội làm thuê. Khoảng 12h00’ ngày 10/8/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên M đi đến khu vực gầm Cầu Vĩnh Tuy, thành phố Hà Nội để tìm mua ma tuý Heroine để sử dụng. Tại đây, M mua của một người phụ nữ không quen biết 01 gói giấy bạc màu trắng chứa Heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó, M mang ma túy đến khu vực đường gom Quốc lộ 5B thuộc địa phận Thôn N, xã B, Hà Nội để sử dụng (dưới hình thức trích). Sau khi sử dụng xong thì M ra về. Đến ngày 13/8/2025, M được Công an xã Bát Tràng mời lên làm việc, xét nghiệm ma túy thì cho kết quả dương tính với chất ma tuý. Bản thân M không được cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng các chất có chứa thành phần Morphine.

Tại phiếu xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu ngày 13/8/2025 của Trạm Y tế xã B lập, phát hiện mẫu nước tiểu của Lo Văn M dương tính với ma túy MOP (ma túy Heroine).

Tại Kết luận giám định số 5252/KL-KTHS ngày 21/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Lo Văn M thu ngày 13/8/2025 gửi giám định có tìm thấy ma túy loại Morphine.

Lời khai của Lo Văn M phù hợp phù hợp với lời khai của nhân chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Lo Văn M ngày 10/8/2025 tại khu vực gầm Cầu Vĩnh Tuy, Hà Nội: Quá trình điều tra, Lo Văn M khai không biết nhân thân, lai lịch của người phụ nữ này nên Cơ quan điều tra không có sở để điều tra làm rõ.

Tại bản cáo trạng số:140/CT-VKSKV5 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội truy tố đối với các bị cáo: Lo Văn M phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 –Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích đánh giá nội dung vụ án, vai trò và tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cụ thể trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

Áp dụng: Điểm b Khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự về tội: Sử dụng trái phép chất ma túy cho bị cáo. Đồng thời áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2(bị cáo sống ở vùng kinh tế khó khăn) điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự cho bị cáo, đề nghị xử phạt:

+ Bị cáo Lo Văn M mức án từ: 24 tháng đến: 28 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày: 13/8/2025;

Trợ giúp viên pháp lí: Nhất trí với bản cáo trạng về tội danh. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho mức án nhẹ nhất vì bị cáo là người dân tộc sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đề nghị áp dụng thêm điểm i Khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS và cho bị cáo miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố hà Nội đã ủy quyền cho Phó Trưởng Công an xã B - thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay xét bị cáo Lo Văn M đã có lời khai thành khẩn, lời khai này xét thấy phù hợp với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản xét nghiệm ngày 13/8/2025, có đủ cơ sở xác định bị cáo Lo Văn M đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo xác định nghiện ma túy từ năm 2017 đến nay, hình thức sử dụng là dùng xilanh hòa với nước cất và ma túy để đưa ma túy vào cơ thể. Nguồn gốc số ma túy bị cáo đã mua tại khu vực gầm cầu Vĩnh Tuy của một người không quen biết vào ngày 10/8/2025 với giá 200.000 đồng. Người này đã đưa cho bị cáo một gói ma túy qua xét nghiệm nước tiểu xác định bị cáo có chất ma túy. Bị cáo khai một tuần sử dụng ma túy từ ba đến bốn lần. Về nhân thân, bị cáo đã được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 26/4/2023 đến ngày 12/9/2024 theo Quyết định, bị cáo đã chấp hành cai nghiện bắt buộc xong tại Trung tâm cai nghiện, tiếp tục đến ngày 13/8/2025, Cơ quan công an đã đưa bị cáo đi xét nghiệm và xác định bị cáo vẫn nghiện ma túy. Như vậy, bị cáo đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật phòng, chống ma túy, theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 256a Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Lo Văn M về tội sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định pháp luật.

Bị cáo là người nghiện ma túy và đã bị áp dụng bằng các quyết định cai nghiện bắt buộc từ năm 2023 tại Tòa án huyện T, sau khi chấp hành xong lại tái nghiện ma túy.

Hành vi này của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến việc quản lý, sử dụng chất gây nghiện, bị nhà nước cấm, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ảnh hưởng đến xã hội, là nguồn gốc gây ra các loại tội phạm tệ nạn khác, do vậy cần bị xét xử và bị cáo phải có hình phạt tương xứng.

Tuy nhiên khi lượng hình xem xét bị cáo khai báo thành khẩn để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định Pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ : Điểm b Khoản 1 điều 256a BLHS, Điều 38, Điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Áp dụng cho bị cáo Lo Văn M.

Căn cứ: Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điểm d Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 quy định miễn án phí, lệ phí.

1/ Tuyên bố bị cáo: Lo Văn M đã phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Xử phạt: Bị cáo Lo Văn M: 24(Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày: 13/8/2025

2/ Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo có hạn kháng cáo hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Cỡ chữ