vanban.org

Bản án 166/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Kiến An, TP. Hải Phòng Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 8 năm 2024. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng các vỏ bao … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN KIẾN AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 166/2024/HS-ST
Ngày 26-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Hải Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Anh Tuấn

Bà Trần Thị Trúc Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 184/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành L, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1995 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H và bà Vũ Thị K; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/8/2024, chuyển tạm giam ngày 30/8/2024 tại Nhà tạm giữ Công an quận Kiến An, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 06 giờ 15 phút ngày 22/8/2024, Nguyễn Thành L đi xe ôm đến trước một ngôi nhà cấp 4 (không rõ địa chỉ), bên ngoài là cửa xếp, bên trong là cửa nhôm kính trong ngõ 137 đường Q, quận K, thành phố Hải Phòng. L đưa 200.000 đồng qua khe cửa để mua ma tuý đá, người phụ nữ trong nhà (không xác định được căn cước, lai lịch) nhận tiền và đưa cho Luân 01 túi nilon viền mép màu đỏ chứa ma tuý đá qua khe cửa, L cất giấu số ma tuý trên vào túi quần bên trái phía sau. Khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày, L đi bộ đến khu vực số 230 đường Q, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ của L 01 túi nilon (kích thước 02x2cm) có viền mép màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy.

Bản Kết luận giám định số 1002/KL-KTHS ngày 26/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Thành L gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,16 gam, loại: Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thành L khai nhận phù hợp với nội dung trên. Bị cáo đã cáo cất giấu ma túy với mục đích sử dụng cá nhân. Nguồn gốc số tiền mua ma túy do bị cáo lao động mà có. Bị cáo không nhớ và xác định được địa chỉ nơi bị cáo đã mua ma tuý và không nhận dạng được người phụ nữ bán ma túy.

Vật chứng của vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong một phong bì thư (dấu niêm phong số 1002MT/PC09).

Bản Cáo trạng số 169/CT-VKSKA ngày 27 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Thành L khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thành L như nội dung bản Cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 “bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự và được tặng giấy khen” và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 18 (mười tám) tháng tù đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong một phong bì thư (dấu niêm phong số 1002MT/PC09).

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Nguyễn Thành L. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Do vậy, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Kiến An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa vì vậy có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Nguyễn Thành L đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,16 gam, là loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ vào ngày 22/8/2024. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An đã truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo từng tham gia nghĩa vụ quân sự và được tặng giấy khen. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

- Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Nguyễn Thành L như vậy mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma tuý cùng các vỏ bao bì còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cấm sử dụng trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Về án phí:

Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Về các nội dung khác:

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Nguyễn Thành L, quá trình

điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp

tục xác minh làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 8 năm 2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong một phong bì thư (dấu niêm phong số 1002MT/PC09 của Công an thành phố Hải Phòng)

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Thành L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ