vanban.org

Bản án 166/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Yến L với ông Nguyễn Văn T.

Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Yến L với ông Nguyễn Văn T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Yến L với ông Nguyễn Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp ly hôn giữa bà Phạm Thị Yến L với ông Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Yến L với ông Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BĐ, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 166/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25/12/2024
V/v “Ly hôn giữa bà L với ông T”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Hoàng Mích.

2. Ông Bùi Tuấn Khanh.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo L- Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 360/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 331/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 257/2024/QĐST - HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Phạm Thị Yến L, sinh năm 1989 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Bình Huề 2, xã ĐHL, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

* Bị đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Thừa Lợi, xã TĐ, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 04/7/2024, những lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Phạm Thị Yến L trình bày:

Bà Phạm Thị Yến L với ông Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014, hai bên đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TĐ, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre . Sau khi cưới, thời gian đầu, vợ chồng chung sống có hạnh phúc nhưng đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cải nhau, ông T không lo làm ăn, xây dựng gia đình, không lo chăm sóc vợ con. Bà L cố gắng hàn gắn, thuyết phục ông T để xây dựng lại hạnh phúc gia đình, tuy nhiên không có kết quả, từ đó dẫn đến tình cảm vợ, chồng không còn. Vợ chồng bà L, ông T đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Hiện tại, bà L không còn tình cảm vợ chồng với ông T nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết một số vấn đề sau đây:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Về nuôi con chung: Có 03 con chung tên là Nguyễn Quốc D, sinh ngày 25/9/2014; Nguyễn Thảo V, sinh ngày 06/10/2017; Nguyễn Quốc K, sinh ngày 14/3/2021. Sau khi ly hôn, bà Phạm Thị Yến L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Thảo V; Giao cháu Nguyễn Quốc D, Nguyễn Quốc K cho ông Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn Nguyễn Văn T trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do, mặc dù ông T vẫn còn đang sinh sống tại địa phương, nên không thu thập được lời khai, ý kiến hay yêu cầu của ông T.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn Phạm Thị Yến L thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên bị đơn Nguyễn Văn T không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt tại phiên tòa là vi phạm khoản 16 Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Yến L với ông Nguyễn Văn T

Về nuôi con chung: Bà Phạm Thị Yến L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Thảo V, sinh ngày 06/10/2017; Ông Nguyễn Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quốc D, sinh ngày 25/9/2014; Nguyễn Quốc K, sinh ngày 14/3/2021.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phạm Thị Yến L không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con; Ông Nguyễn Văn T cũng không có yêu cầu bà Phạm Thị Yến L cấp dưỡng nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L khai không có, ông T cũng không có yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Phạm Thị Yến L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Bà Phạm Thị Yến L với ông Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014, hai bên có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hàn gắn được. Hiện tại, ai cũng có cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau và ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Trong quá trình tố tụng, Toà án đã triệu tập bà L với anh T để hoà giải, nhằm tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T vắng mặt không có lý do, đồng thời bà L cũng có yêu cầu xét xử vắng mặt cho thấy hai bên đã không còn quan tâm và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với nhau. Từ đó, đủ cơ sở xác định cuộc sống vợ, chồng giữa bà L với ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Yến L là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung:

Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Nguyễn Thảo V, sinh ngày 06/10/2017, hiện tại đang sống chung với bà Phạm Thị Yến L; Cháu Nguyễn Quốc D, sinh ngày 25/9/2014; Nguyễn Quốc K, sinh ngày 14/3/2021, hiện tại đang sống chung với ông Nguyễn Văn T. Do đó, cần giao cháu Nguyễn Thảo V cho bà Phạm Thị Yến L trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Nguyễn Quốc D, Nguyễn Quốc K cho ông Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển bình thường của các cháu, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu D, cháu V trên 07 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phạm Thị Yến L không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con; Ông Nguyễn Văn T cũng không có yêu cầu bà Phạm Thị Yến L cấp dưỡng nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L khai không có, ông T cũng không có yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện BĐ về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bà Phạm Thị Yến L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Yến L với ông Nguyễn Văn T.

Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Yến L với ông Nguyễn Văn T.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Yến L với ông Nguyễn Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung:

Bà Phạm Thị Yến L được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thảo V, sinh ngày 06/10/2017; Ông Nguyễn Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quốc D, sinh ngày 25/9/2014; Nguyễn Quốc K, sinh ngày 14/3/2021 (Phù hợp với nguyện vọng của cháu D, cháu V trên 07 tuổi).

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Bà Phạm Thị Yến L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001925 ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

Như vậy, bà Phạm Thị Yến L đã nộp đủ án phí.

Các đương sự bà Phạm Thị Yến L, ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ