vanban.org

Bản án 166/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị G về việc xin ly hôn với anh Trần Văn T .

Về con chung: Giao 01 con chung tên Trần Thanh B, sinh ngày 24/7/2008 cho anh Trần Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét. Chị G không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị G xin ly hôn với ông Trần Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị G về việc xin ly hôn với anh Trần Văn T .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI BÌNH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 166/2023/HNGĐ-ST
Ngày 24 tháng 8 năm 2023
“V/v xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Cương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Minh Sang

Bà Hồ Lệ Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni – Là thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 206/2023/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023 về việc yêu cầu xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị G, sinh năm 1972 (có mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp TC, xã T, huyện B, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã BĐ, huyện B, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Lê Thị G trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T chung sống với nhau vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã BĐ, huyện B vào ngày 27/6/2017. Trong thời gian chung sống đến nay hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, xung đột gia đình xãy ra không hàn gắn được. Nguyên nhân do anh T không quan tâm đến vợ con và có thường xuyên ghen tuông vô cớ. Nên chị và anh T đã ly thân khoảng 06 tháng nay. Chị xác định hiện vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung tên Trần Thanh B, sinh ngày 24/7/2008 hiện con đang sống cùng anh T. Khi ly hôn chị yêu cầu giao con cho anh T nuôi và chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị xác định để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị và anh T không có nợ chung.

- Đối với anh Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nội dung tranh chấp giữa chị Lê Thị G và anh Trần Văn T được xác định là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh Trần Văn T có nơi cư trú tại xã BĐ, huyện B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập xét xử lần thứ hai theo quy định nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị G và anh Trần Văn T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BĐ, huyện B theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Hiện chị G yêu cầu xin ly hôn với anh T. Theo lời trình bày của chị G tại phiên tòa do vợ chồng sống không hợp nhau, và có nhiều mâu thuẫn, anh T không chăm lo gia đình nên anh chị đã ly thân khoảng 06 tháng nay. Đồng thời, trong suốt thời gian chị G yêu cầu ly hôn tại Tòa án thì anh T không đến Tòa án để hòa giải cũng như không gửi ý kiến của mình cho Tòa án, điều đó chứng tỏ anh T cũng không có ý thức hàn gắn. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống chung giữa Chị Lê Thị G và anh Trần Văn T mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đựơc, hiện Chị Lê Thị G và anh Trần Văn T mỗi người đã có cuộc sống riêng, không ai quan tâm chăm sóc ai. Do đó, có cơ sở chấp nhận lời trình bày và yêu cầu của chị G về việc xin ly hôn với anh T .

[3] Về con chung: Chị Lê Thị G và anh Trần Văn T có 01 con chung tên Trần Thanh B, sinh ngày 24/7/2008 hiện con đang sống cùng anh T. Khi ly hôn chị yêu cầu giao con cho anh T nuôi. Xét thấy, cháu B đang sống cùng anh T và cháu cũng có nguyện vọng là sống cùng cha khi cha mẹ ly hôn nên tiếp tục giao cháu Trần Thanh B cho anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không đặt ra yêu cầu, chị G có ý kiến không cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị G không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Chị G xác định tài sản chung chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị G khai không nợ ai nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị G phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 207, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị G về việc xin ly hôn với anh Trần Văn T .

Về con chung: Giao 01 con chung tên Trần Thanh B, sinh ngày 24/7/2008 cho anh Trần Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.

Chị G không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung; nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, chị Lê Thị G phải chịu. Chị G đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0003724 vào ngày 21/6/2023 được đối trừ, chị G đã nộp đủ.

T hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Lê Thị G có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Văn T quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ