- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Phạm Dư T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Huỳnh Diệu L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Phạm Dư T và chị Huỳnh Diệu L là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 166/2023/HNGĐ-ST Ngày 07-8-2023. V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Hồng Ân.
Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 07 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 338/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Dư T, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Chị Huỳnh Diệu L, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 5 năm 2023 cùng các văn bản khác kèm theo, nguyên đơn anh Phạm Dư T trình bày: Vào năm 2007 anh và chị Huỳnh Diệu L chung sống với nhau như vợ chồng, đến nay không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống giữa anh và chị L xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2018 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân giữa anh và chị L không còn hạnh phúc, không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Huỳnh Diệu L. Về con chung, có hai người tên là Phạm Thị Huỳnh N (giới tính nữ), sinh ngày 11 tháng 01 năm 2008 và Phạm Phương H (giới tính nam), sinh ngày 25 tháng 10 năm 2012, hiện Phạm Thị Huỳnh N do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, Phạm Phương H do anh trực tiếp nuôi dưỡng nên khi ly hôn anh yêu cầu giao Phạm Thị Huỳnh N cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh tiếp tục nuôi dưỡng Phạm Phương H, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Huỳnh Diệu L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Đồng thời, cũng không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Dư T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Việc anh Phạm Dư T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Huỳnh Diệu L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn chị Huỳnh Diệu L cư trú tại ấp C, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Phạm Dư T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn chị Huỳnh Diệu L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Phạm Dư T và chị Huỳnh Diệu L là đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân, anh T và chị L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007 đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân giữa anh T và chị L vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ vào quy định tại các Điều 9 và 14 của Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa anh T và chị L không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Anh T và chị L không được công nhận là vợ chồng.
Về con chung, có hai người tên là Phạm Thị Huỳnh N (giới tính nữ), sinh ngày 11 tháng 01 năm 2008 và Phạm Phương H (giới tính nam), sinh ngày 25 tháng 10 năm 2012, anh T yêu cầu được giao Phạm Thị Huỳnh N cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh tiếp tục nuôi dưỡng Phạm Phương H. Chị L không có ý kiến phản đối yêu cầu về con chung của anh T. Xét thấy, con chung tên Phạm Thị Huỳnh N hiện do chị L là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, Phạm Phương H do anh T trực tiếp nuôi dưỡng, do đó nhằm để ổn định về điều kiện môi trường sống và đảm bảo sự phát triển bình thường của con chưa thành niên. Từ đó, giao cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng Phạm Thị Huỳnh N, anh T tiếp tục nuôi dưỡng Phạm Phương H là phù hợp. Anh T và chị L đều không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
Anh T xác định tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có. Chị L không có ý kiến về những vấn đề trên nên không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh Phạm Dư T phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 9, 14, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Phạm Dư T và chị Huỳnh Diệu L là vợ chồng.
2. Về con chung, giao chị Huỳnh Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng Phạm Thị Huỳnh N (giới tính nữ), sinh ngày 11 tháng 01 năm 2008. Anh Phạm Dư T trực tiếp nuôi dưỡng Phạm Phương H (giới tính nam), sinh ngày 25 tháng 10 năm 2012. Chị Huỳnh Diệu L và anh Phạm Dư T không ai cấp dưỡng nuôi con.
Chị Huỳnh Diệu L và anh Phạm Dư T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh Phạm Dư T phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018948, ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên anh Phạm Dư T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Huệ |