vanban.org

Bản án 166/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn V T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn V T 02 năm ....... tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2022. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói mang số vụ 435/22 có chữ ký niêm phong của giám định viên và điều tra viên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn V T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 166/2022/HSST
Ngày: 29/8/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, TH NH PH H CH MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Rồi.

2. …………………………...

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n C Chi Thành ph Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 145/2022/HSST, ngày 12 tháng 8 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2022/QĐST-HS ngày 18/8/2022 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn V T; Tên gọi khác: Không.

Giới tính: Nam; Sinh năm: 1966 tại tỉnh HN.

Nơi cư trú: Khu phố 5, phường LB, thành phố BH, tỉnh ĐN.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Tài xế.

Cha: Nguyễn Văn Chung, sinh năm 1942; Mẹ: Bạch Thị Sáu, sinh năm 1942.

Anh chị em ruột: năm người kể cả bị cáo.

Vợ: Nguyễn Thị Phương, sinh năm: 1975;

Con: hai người, sinh năm: 1998 và sinh năm 1999.

Tiền sự, tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 26/12/2000, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 245/HSST, chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam K4 vào ngày 25/7/2001.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 18/4/2022 đến nay.

Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn V T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 6/2021. Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18/4/2022, T nảy sinh ý định đi mua chất ma túy để sử dụng nên điều khiển xe gắn máy biển số 60F1-844.39 đến khu vực cầu Xáng thuộc huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh gọi vào số điện thoại di động 0924131629 gặp người thanh niên (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 1.000.000 đồng chất ma túy, người này đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận tiền, chất ma túy tại khu vực bờ sông. Đến điểm hẹn, Tá gặp người thanh niên ngồi trên ghe cập sát bờ sông, Tá ném số tiền 1.000.000 đồng xuống ghe thì người này nhận tiền và ném 01 gói ma túy lên bờ cho T nhặt lấy cầm trên tay phải điều khiển xe đi về. Vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 18/4/2022, T điều khiển xe về đến Tỉnh lộ 15 đoạn thuộc 11A, ấp Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an huyện Củ Chi kiểm tra. Lúc này, T thả gói ma túy từ trên tay phải rơi xuống đường ngay vị trí T đang đứng nhưng bị lực lượng Công an phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Kết luận giám định số 2256/KLGĐ-MT ngày 22/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an Thành Phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn V T và hình dấu Công an xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9228g, loại Heroine (bút lục 45).

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói nylon bên trong chứa chất bột màu trắng, sau khi giám định được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 435/22 có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra.

- 01 xe gắn máy biển số 60F1-844.39, số khung: RLCS1FC30FY148566, số máy: 1FC00YV-3.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia số Imei 1: 353163110499620, số Imei 2: 353163111499629.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 353072098706593.

(Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc đội cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an huyện Củ Chi).

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận thực hiện hành vi như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 141/CT-VKS ngày 10/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Nguyễn Văn Tá về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ.

Vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 18/4/2022 trên Tỉnh lộ 15 đoạn thuộc ấp 11A, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an xã Tân Thạnh Đông phát hiện bắt quả tang Nguyễn V T đang tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9228g, loại Heroine để sử dụng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn V T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và trong hồ sơ vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án, tiền sự: không. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tá từ ….. năm …. tháng tù đến …. năm ……tù.

Đối tượng bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn V T, Cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon bên trong chứa chất bột màu trắng, sau khi giám định được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 435/22 có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe gắn máy biển số 60F1-844.39, số khung: RLCS1FC30FY148566, số máy: 1FC00YV-3,

01 điện thoại di động hiệu Nokia số Imei 1: 353163110499620, số Imei 2: 353163111499629.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 353072098706593.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các chứng cứ có tại hồ sơ, kết luận giám định số 2256/KLGĐ-H ngày 22/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an Thành Phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Tá và hình dấu Công an xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9228g, loại Heroine. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn V T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo T là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có một hình phạt tương xứng.

Bị cáo là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện. Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án, tiền sự: không. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi lượng hình là có cơ sở chấp nhận.

Đối với đối tượng bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn V T, Cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) gói mang số vụ 435/22 có chữ ký niêm phong của giám định viên và điều tra viên. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe gắn máy biển số 60F1-844.39, số khung: RLCS1FC30FY148566, số máy: 1FC00YV-3 thuộc quyền sở hữu của bị cáo; Là phương tiện bị cáo thực hiện tội phạm. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia số Imei 1: 353163110499620, số Imei 2: 353163111499629.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 353072098706593.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 141/CT-VKS ngày 10/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn V T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử lý vật chứng như nhận định nêu trên, xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thượng vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn V T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Nguyễn V T 02 năm ....... tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2022.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói mang số vụ 435/22 có chữ ký niêm phong của giám định viên và điều tra viên.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe gắn máy biển số 60F1-844.39, số khung: RLCS1FC30FY148566, số máy: 1FC00YV-3 (đã qua sử dụng)

01 điện thoại di động hiệu Nokia số Imei 1: 353163110499620, số Imei 2: 353163111499629.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 353072098706593.

Vật chứng, tài sản nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 80/PNK ngày 13/5/2022 và phiếu nhập kho vật chứng số: 93/PNK ngày 21/6/2022 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bút lục số 50, 52)

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

- Án phí HS-ST: Bị cáo Nguyễn Văn Tá phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn V T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Cỡ chữ