- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn Đ1 phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TAND HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
Bản án số: 166/2022/HS-ST
Ngày: 21/12/2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG,TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lờ Thị Hồng Vinh và bà Nguyễn Thị Hà.
Thư ký phiờn tũa: Bà Tạ Thị Bớch Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: ễng Hạ Gia Thuận, Kiểm sát viên.
Ngày 21 thỏng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2022/TLST-HS ngày 04/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2022/QĐXXST-HS ngày 02/12/2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1974.
Nơi đăng ký HKTT: Thôn Lạc Nhuế, xã Thụy Hòa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Bố: Nguyễn Văn Hội, sinh năm 1939; Mẹ: Nguyễn Thị Viên, sinh năm 1940; Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 5; Vợ: Nguyễn Thị Nam, sinh năm 1978; Con: Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/8/2022 đến nay. Hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Bị hại: Ông Ngô Xuân Tr, sinh năm 1963 (Đã chết).
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Nguyễn Thị Sửu, sinh năm 1965; chị Ngô Thị Mến, sinh năm 1987; chị Ngô Thị Thu , sinh năm 1988; chị Ngô Thị Thủy, sinh năm 1991; anh Ngô Văn Trọng, sinh năm 1992; anh Ngô Văn Lượng, sinh năm 1995, đều trú tại: Thôn Phong Xá, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Sửu, chị Mến, chị Thu, chị Thủy, anh Trọng, anh Lượng: Ông Ngô Văn Tình, sinh năm 1959, trú tại: Thôn Phong Xá, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1974, trú tại: thôn Lạc Nhuế, xã Thụy Hòa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh không có giấy phép lái xe. Năm 2018, Đ1 mua 01 (một) xe bốn bánh tự chế (xe công nông), sử dụng để phục vụ sản xuất nông nghiệp của gia đình. Khoảng 9 giờ ngày 02/6/2022, Đ1 điểu khiển xe công nông đi một mình từ thôn Lạc Nhuế đến thôn Đại Lâm, xã Tam Đa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh để mua vật liệu xây dựng. Khi đi gần đến ngã ba giao nhau giữa đường từ thôn Lạc Nhuế ra với đường trục chính liên xã Thụy Hòa - Đông Phong, đoạn thuộc địa phận thôn Bằng Lục, xã Thụy Hòa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Đ1 nhìn thấy ông Ngô Xuân Tr, sinh năm 1963, trú tại thôn Phong Xá, xã Đông Phong, huyện Yên Phong điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Ferroli, Biển kiểm soát (BKS): 98Y2 - 7964 đi một mình trên đường trục chính hướng Thụy Hòa đi Đông Phong tiến về phía ngã ba, cách ngã ba giao với đường thôn Lạc Nhuế khoảng 10m. Do nghĩ ông Tr sẽ giảm tốc độ và dừng xe tránh mình nên Đ1 vẫn điều khiển xe công nông chuyển hướng rẽ trái ra đường trục chính để đi theo hướng Đông Phong đi Thụy Hòa. Khi Đ1 đang chuyển hướng thì thấy ông Tr vẫn di chuyển xe mô tô. Lúc này, xe công nông do Đ1 điều khiển đang chuyển hướng, xe ở tình trạng chếch chéo, đầu xe hướng về Thụy Hòa và ở chiều đường Đông Phong đi Thụy Hòa, đuôi xe chếch về hướng Lạc Nhuế và ở giữa đường thì xe mô tô do ông Tr điều khiển đã đâm vào bên trái thùng xe công nông làm cho xe mô tô đổ nghiêng bên phải và ông Tr ngã nghiêng trái xuống đường. Đ1 dừng xe và gọi cán bộ Trạm y tế xã Thụy Hòa ra sơ cứu cho ông Tr. Hậu quả: Ông Tr bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Yên Phong và tử vong cùng ngày tại nhà riêng.
Ngay sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong đã tiến hành khám nghiệm hiện Tr, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện.
Kết quả khám nghiệm hiện Tr:
Hiện Tr không còn nguyên vẹn, đã bị xáo trộn một phần do quá trình đưa người bị nạn đi cấp cứu. Hiện Tr là ngã ba giao nhau giữa đường liên xã Đông Phong - Thụy Hòa và đường dẫn vào thôn Lạc Nhuế, đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 7,10m; mặt đường dẫn vào thôn Lạc Nhuế trải bê tông rộng 5m; điểm tiếp giáp giữa hai đường rộng 12,50m.
Lấy cột điện số 20.465.E27.13 làm điểm mốc; lấy mép đường bên phải theo chiều Đông Phong đi Tam Đa làm mép đường chuẩn để đo đạc.
Trên hiện Tr phát hiện các dấu vết, phương tiện:
Xe công nông 4 bánh, đầu xe hướng về Tam Đa, đuôi xe hướng về Đông Phong. Trục trước bên phải của xe cách mép đường chuẩn là 1,55m; trục sau bên phải của xe cách mép đường chuẩn là 1,35m và cách điểm mốc là 10,65m.
2
Xe mô tô BKS 98Y2 - 7964 đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng về mép đường trái, đuôi xe hướng về mép đường chuẩn. Trục trước bên trái xe cách mép đường chuẩn là 4,71m; trục sau bên trái xe cách mép đường chuẩn là 3,54m và cách trục sau bên trái xe công nông là 8,82m và cách điểm mốc là 12,95m.
01 chất màu nâu đỏ trên diện (0,72 x 0,30)m, tâm cách trục trước bên trái xe mô tô là 1,70m và cách mép đường chuẩn là 4,95m.
Có nhiều mảnh nhựa vỡ trên diện (3,72 x 3,32)m, tâm cách trục sau bên phải xe mô tô là 0,60m và cách mép đường chuẩn là 3,20m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
Xe mô tô biển kiểm soát: 98Y2 - 7964:
Đầu tay phanh gãy mất mảnh, xước kích thước (0,9 x 0,6)cm;
Vỡ mất mảnh nửa bên trái ốp nhựa đầu xe;
Khuyết toàn bộ đèn pha và đèn báo rẽ bên phải, đèn báo rẽ bên trái còn mắc lại với dây điện. Góc trên bên trái đèn này vỡ mất mảnh kích thước (4 x 3)cm, mặt đèn này có dấu vết trượt xước kích thước (9 x 3)cm;
Mặt trước tay lái bên trái có dấu vết xước rách kích thước (3 x 2)cm, xen kẽ vết rách có mắc các mảnh màu xanh, dấu vết cách mặt đất khi đứng xe là 96,5cm, cạnh trước đế kim loại hàn gắn phía trước khung tay lái bên trái có dấu vết xước kích thước (0,8 x 0,2)cm dấu vết cách mặt đất khu đứng xe là 98cm. Cạnh trước bên trái đế kim loại hàn gắn phía dưới ở giữa khung tay lái có dấu vết xước mài mòn kích thước (2,8 x 0,3)cm, chiều từ trước về sau, từ trái qua phải, dấu vết cách mặt đứng xe là 95cm;
Nắp ốp phía trước cổ xe bị bung rời ra khỏi hai cánh yếm, mắc lại với ốc gắn phía dưới, tấm ốp màu bạc trên tấm nhựa này bị xô lệch ở phía dưới sang trái, cạnh trước bên phải tấm ốp màu bạc này có dấu vết xước kích thước (2,2 x 0,7)cm, dấu vết cách mặt đất 78cm. Mặt trước ốp nhựa này tương ứng phía sau dấu vết xước nêu trên có dấu vết xước liên tục kích thước (2,2 x 2,2)cm. Mặt trước sát với mép cạnh phía trong của cánh yếm bên phải có dấu vết xước, rách nham nhở kích thước (2 x 1)cm, dấu vết cách mặt đất 78,5cm. Mặt trước cánh yếm này có diện vết trượt không liên tục có bám chất màu đen kích thước (29 x 18)cm, dấu vết cách mặt đất 56cm, cao nhất 84cm. Vỡ mất mảnh toàn bộ ốp nhựa ngoài đầu trên hai giảm sóc bánh trước. Mặt ngoài bên phải và một phần mặt trên chắn bùn bánh trước có dấu vết trượt xước kích thước (11 x 8)cm, các đường xước nằm ngang, chiều từ sau ra trước, dấu vết cách đầu phía trước chắn bùn 20cm, cách mặt đất 57cm. Mặt trước phía ngoài giảm sóc bên phải bánh trước có dấu vết trượt bám dính chất màu đen kích thước (19 x 2,5)cm, dấu vết cách đầu dưới giảm sóc bánh trước 12cm, cách mặt đất 31cm, dấu vết cao nhất 48cm, chiều trượt từ phải sang trái. Ốc đầu trục bên phải bánh trước có dấu vết xước kích thước (1 x 1)cm, bề mặt bám chất màu trắng.
Mặt trước đầu tay lái bên phải xước rách kích thước (1,5 x 2,5)cm.
3
Cạnh ngoài phía dưới bàn đạp phanh trước có dấu vết xước, bám dính chất màu trắng kích thước (2,5 x 0,3)cm. Mặt ngoài phía dưới cần đạp này có dấu vết xước bám dính chất màu trắng kích thước (8 x 0,5)cm. Bàn đạp phanh này ép gần sát vào vỏ lốc máy, cần đạp cong về sau. Đầu bàn để chân trước xước, sau bên phải xước, rách.
Mặt ngoài ống xả sát với đầu phía sau xước kích thước (2,5 x 0,7)cm.
Xem xét khung tay lái bên trái thấy cong về sau so với tay lái bên phải.
Bánh trước và hai giảm sóc có dấu vết xoay vặn lệch sang phải so với chắn bùn phía trước.
Xe công nông 4 bánh tự chế:
Mặt ngoài bên trái thùng xe có các dấu vết:
Dấu vết 1: Dấu vết trượt bám chất màu đen kích thước (25 x 2)cm, chiều từ trước về sau, vị trí dấu vết sát với cạnh trước thùng xe, cách mặt đầu xe 137cm. Đầu dấu vết cách mặt đỗ xe 89,5cm, đuôi dấu vết cách mặt đỗ xe 86,5cm.
Dấu vết 2: Là diện dấu vết trượt xước bám chất màu trắng, màu nâu kích thước (60 x 8)cm. Dấu vết nằm ngay sau dấu vết 1 và sát với cạnh dưới thùng xe, đầu phía trước cách mặt đỗ xe 86,2cm, đầu phía sau cách mặt đỗ xe 88cm, điểm cao nhất cách mặt đỗ xe 95,5cm trong những dấu vết này có dấu vết xước kích thước (5,2 x 0,3)cm, cách dấu vết 1 là 46,5cm, cách mặt đỗ xe 88cm.
Cạnh trước phía dưới tấm che bánh sau bên trái có dấu vết trượt kích thước (8,5 x 0,3)cm, bề ngoài mặt bám chất màu nâu, màu đen bạc, dấu vết cách cạnh ngoài tấm che 1,8cm, cách mặt đỗ xe 67,5cm. Mép cạnh trước trên phía ngoài ốp che này có dấu vết trượt bám cách mảnh vật chất sẫm màu kích thước (4,5x1,5)cm, dấu vết cách mặt đỗ xe 80cm, cao nhất 83,5cm. Tấm che này có dấu vết dồn đẩy về phía sau gãy hàm phía trên.
Mặt ngoài nắp bửng bên trái thùng có dấu vết trượt kích thước (18 x 7,5)cm, cách cạnh trước thùng xe 71cm, cách mặt đỗ xe 131cm. (BL 46-47)
Quá trình khám nghiệm thu mảnh cao su tại đầu nắm tay lái bên trái xe mô tô 98Y2-7964 (niêm phong trong phong bì thư ký hiệu MSS) và thu chất màu đen ở mặt ngoài bên trái thùng xe công nông (niêm phong trong phong bì thư ký hiệu MGĐ).
Kết quả khám nghiệm tử thi ông Ngô Xuân Tr:
Khám ngoài: Vùng đỉnh chẩm bên trái ngay sát đường giữa trên đường chân tóc gáy 13 cm có diện phù nề xây xát da và bầm tím kích thước (18 x 10)cm. Vùng trán bên trái cách đường giữa 02 cm có vết rách da nằm ngang kích thước (4 x 0,5)cm, bờ mép tương đối gọn, sâu sát xương hộp sọ, xung quanh xây sát da diện (6 x 1)cm. Vùng đầu trong cung lông mày bên phải có vết rách da kích thước (2 x 15)cm. Vùng gò má bên phải đến vùng cằm phải có diện xây sát, rách da, bầm tím kích thước (10 x 6)cm. Vùng gò má trái có vết rách, xây sát da kích thước (2,5 x 2)cm.
4
Giải phẫu vùng đầu theo vết phù nề vùng đỉnh chẩm bên trái bầm dập, bong tróc. Vỡ xương hộp sọ vùng đỉnh bên trái, vết vỡ lan về phía xương thái dương bên trái và xương đỉnh bên phải, diện vỡ đo được kích thước (7x0,5)cm. Không giải phẫu các vùng còn lại do gia đình kiên quyết từ chối.
Kết quả giám định:
Ngày 02/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong ra Quyết định trưng cầu giám định số 160 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định nguyên nhân chết của ông Ngô Xuân Tr.
Tại Bản kết luận giám định pháp y số 923 ngày 10/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Nguyên nhân chết của Ngô Xuân Tr: chấn thương sọ não nặng”.
Ngày 02/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong đã tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Văn Đ1 tại Công an huyện Yên Phong ngay sau khi xảy ra tai nạn là 0.000mg/l khí thở.
Ngày 07/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong ra Quyết định trưng cầu giám định số 168 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định nồng độ cồn trong máu của ông Ngô Xuân Tr.
Tại Bản kết luận giám định số: 968/KL-KTHS ngày 17/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Mẫu máu ghi thu của Ngô Xuân Tr, sinh năm 1963, trú tại: Phong Xá, Đông Phong, Yên Phong, Bắc Ninh không tìm thấy thành phần Ethanol”.
Ngày 14/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong ra Quyết định trưng cầu giám định số 178 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định dấu vết va chạm giữa xe công nông tự chế không biển kiểm soát và xe mô tô biển kiểm soát 98Y2 – 7964? Điểm va chạm đầu tiên? Cơ chế hình thành dấu vết va chạm? Dấu vết sơn đối với mẫu vật ký hiệu MGĐ và MSS thu trên 02 phương tiện.
Tại Bản kết luận giám định số 1024/KL - KTHS ngày 24/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất màu đen thu tại mặt ngoài bên trái thành thùng xe công nông tự chế gửi giám định là cao su, cùng loại với mẫu cao su thu tại đầu nắm tay lái bên trái xe mô tô biển kiểm soát 98Y2 - 7964 gửi làm mẫu so sánh”.
Tại Bản kết luận giám định số 1210/KL-KTHS ngày 27/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
“1. Dấu vết trượt, bám chất màu đen tại mặt ngoài bên trái thùng trên xe công nông (ảnh 6 trong bản ảnh giám định) có chiều từ trước về sau, hình thành do va chạm với mặt trước đầu tay lái bên trái trên xe mô tô biển kiểm soát 98Y2 - 7964 (ảnh 5 trong bản ảnh giám định) tạo nên. Dấu vết trượt, rách tại vị trí va chạm này trên xe mô tô biển kiểm soát 98Y2 - 7964 có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái tay lái. Vị trí này là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.
5
2. Dấu vết xước tại cạnh trước cánh yếm bên phải, ốp nhựa màu nâu và ốp màu bạc phía trước trên xe mô tô biển kiểm soát 98Y2 - 7964 (ảnh 9 trong bản ảnh giám định) có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, hình thành do va chạm với cạnh phía dưới tấm che phía trước bánh sau bên trái trên xe công nông (ảnh 10 trong bản ảnh giám định) tạo nên khi xe mô tô này đã nghiêng về bên phải. Dấu vết trượt, bám chất màu nâu, màu bạc tại vị trí này trên xe công nông có chiều từ trước về sau”.
Về thu giữ, xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong đã tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Ferroli mang BKS: 98Y2 – 7964 và 01 xe công nông tự chế 4 bánh.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Ferroli BKS 98Y2 – 7964 là tài sản của ông Ngô Xuân Tr. Nguồn gốc chiếc xe có đăng ký mang tên bà Hà Thị Bẩy sinh năm: 1977, HKTT: Thôn Tân Sơn, xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Bà Bẩy đã bán xe mô tô này cho 01 người không biết tên tuổi, địa chỉ. Tiến hành tra cứu vật chứng xe mô tô thấy không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng do Bộ Công an quản lý. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Ngô Văn Tình, sinh năm 1959, trú tại thôn Phong Xá, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh là đại diện ủy quyền của gia đình ông Ngô Xuân Tr. Ông Ngô Văn Tình không có yêu cầu định giá thiệt hại, không có yêu cầu bồi thường đối với hư hỏng của xe.
Đối với chiếc xe công nông 4 bánh tự chế do Đ1 điều khiển, quá trình điều tra xác định: Khoảng năm 2018, Đ1 mua chiếc xe này của 01 người đàn ông không quen biết ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, mục đích để sử dụng. Khi mua không có giấy tờ mua bán.
Về Trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ1 đã bồi thường cho gia đình ông Tr số tiền là 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng). Ông Ngô Văn Tình không có yêu cầu bồi thường dân sự khác và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ1.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong, Nguyễn Văn Đ1 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Tại bản Cáo trạng số: 132/CT-VKSYP ngày 29/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ1 về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn Đ1 khai nhận: Khoảng 9 giờ ngày 02/6/2022, Nguyễn Văn Đ1 không có giấy phép lái xe, điều khiển xe công nông 4 bánh tự chế đi một mình từ thôn Lạc Nhuế, xã Thụy Hòa, huyện Yên Phong đến thôn Đại Lâm, xã Tam Đa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Khi đến ngã ba giao nhau giữa đường từ thôn Lạc Nhuế ra với đường trục chính liên xã Thụy Hòa - Đông Phong. Đ1
6
điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái ra đường trục chính để đi Thụy Hòa. Khi xe công nông do Đ1 điều khiển đang chuyển hướng, xe ở tình trạng chếch chéo, đầu xe hướng về Thụy Hòa, đuôi xe chếch về hướng Lạc Nhuế và ở giữa đường thì va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Ferroli, BKS 98Y2 – 7964 do ông Ngô Xuân Tr điều khiển đi trên đường trục chính hướng xã Thụy Hòa đi Đông Phong. Hậu quả: Ông Ngô Xuân Tr bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và tử vong cùng ngày tại nhà riêng.
Những người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại là Ngô Văn Tình vắng mặt nhưng các lời khai tại Cơ quan điều tra trình bày: Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo có đến thăm hỏi và động viên gia đình. Về phần dân sự gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại được 180 triệu đồng, nay không yêu cầu gì thêm, đồng thời đề nghị xin cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ1 về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Nguyễn Văn Đ1 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe bốn bánh tự chế (xe công nông).
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết do các bên đã tự giải quyết.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử mức hình phạt nhẹ nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện Yên Phong, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Đ1 thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 02/6/2022, Đ1 không có giấy phếp lái xe điều khiển xe công nông 04
7
bánh tự chế đi từ thôn Lạc Nhuế, xã Thụy Hòa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đến thôn Đại Lâm, xã Tam Đa, huyện Yên Phong. Khi đến ngã ba giao nhau giữa đường từ thôn Lạc Nhuế ra với đường trục chính liên xã Thụy Hòa - Đông Phong. Đ1 điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái ra đường trục chính để đi Thụy Hòa. Khi xe công nông do Đ1 điều khiển đang chuyển hướng, xe ở tình trạng chếch chéo, đầu xe hướng về Thụy Hòa, đuôi xe chếch về hướng Lạc Nhuế và ở giữa đường thì va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Ferroli, BKS 98Y2 – 7964 do ông Ngô Xuân Tr điều khiển đi trên đường trục chính hướng xã Thụy Hòa đi Đông Phong. Hậu quả: Ông Ngô Xuân Tr tử vong cùng ngày. Do vậy đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ1 phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo điều khiển xe không có giấy phép lái xe Hành vi điều khiển xe công nông 04 bánh tự chế là phương tiện cấm lưu hành, không có giấy phép lái xe, chuyển hướng không đảm bảo an toàn của Nguyễn Văn Đ1 đã vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8 và Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.
Tại khoản 9 Điều 8 và Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định:
“ Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm
9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.
Điều 15. Chuyển hướng xe
2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.”
Hành vi vi phạm nêu trên của Nguyễn Văn Đ1 đã gây tai nạn làm chết 01 người, vì vậy đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo gây ra thì thấy: Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng nên cần có hình thức xử lý phù hợp nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng nào đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại đã có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
8
Căn cứ vào tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy bị có có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự và có nhân thân tốt vì vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
[3] Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe bốn bánh tự chế (xe công nông).
[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận giải quyết, nên không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Nguyễn Văn Đ1 phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn Đ1 36 (ba sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao cho UBND xã Thụy Hòa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục bị cáo Đ1 trong thời gian thử thách.
Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự; Nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe bốn bánh tự chế (xe công nông).
3. Về trách nhiêm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận giải quyết, nên không xem xét.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
9
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Lê Thị Hồng Vinh Nguyễn Thị Hà
Nguyễn Anh Văn
10
N¬i nhËn:
Tm héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- Toµ ¸n tØnh BN;
ThÈm ph¸n - Chñ tọa phiªn toµ
- VKS, C«ng an huyÖn YP;
- THADS huyÖn YP;
- Nh÷ng ng-êi tham gia TT;
- L-u HS, VP.
Nguyễn Anh Văn
11
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Trần Đại
Nghiêm Đình Chế
Nguyễn Anh Văn N¬i nhËn:
Tm héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- Toµ ¸n tØnh BN;
ThÈm ph¸n - Chñ tọa phiªn toµ
- VKS, C«ng an huyÖn YP;
- THADS huyÖn YP;
- Nh÷ng ng-êi tham gia TT;
- L-u HS, VP.
Nguyễn Anh Văn
12
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Anh Văn N¬i nhËn:
Tm héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- Toµ ¸n tØnh BN;
ThÈm ph¸n - Chñ tọa phiªn toµ
- VKS, C«ng an huyÖn YP;
13
- THADS huyÖn YP;
- Nh÷ng ng-êi tham gia TT;
- L-u HS, VP.
Nguyễn Anh Văn
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Trương Văn Tiến
Nguyễn Văn Điều
Nguyễn Anh Văn
14
15