vanban.org

Bản án 166/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng O đối với ông Đặng Phúc C về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hoàng O đƣợc ly hôn với ông Đặng Phúc C (Giấy chứng nhận kết hôn số 05/KH, quyển số 01/2006 do Ủy ban nhân dân phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 18/01/2006). Về con chung: Giao con chung cháu Đặng Hoàng Tuấn K, sinh ngày 10/5/2006, Đặng Ngọc B, sinh n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng O với bị đơn ông Đặng Phúc C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng O đối với ông Đặng Phúc C về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 166/2022/HNGĐ-ST
Ngày 09-9-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D, T NH B NH DƯ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thu Vân;

Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 405/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 202/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm 1986. Thƣờng trú: khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Đặng Phúc C, sinh năm 1985. Thƣờng trú: khu phố T, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 5 năm 2022, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng O trình bày:

Bà Nguyễn Thị Hoàng O và ông Đặng Phúc C tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2006, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng vào ngày 18/01/2006 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05/KH, quyển số 01/2006). Sau khi kết hôn hai vợ chồng về sống chung với nhau tại khu phố T, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Thời gian đầu hạnh phúc, đến cuối năm 2008 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thƣờng xuyên xảy ra tranh cãi, chồng thƣờng xuyên ăn nhậu, cờ bạc không quan tâm đến vợ con và gia đình. Gia đình đã nhiều lần phải đứng trả nợ thay cho ông C với số tiền rất lớn do thua cờ bạc nhƣng ông C vẫn không thay đổi. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà O đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhƣng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2019 đến nay. Từ tháng 9/2019, bà O và cháu Đặng Hoàng Tuấn K, Đặng Ngọc B, Đặng Hoàng Đăng K về nhà mẹ ruột tại địa chỉ khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để sinh sống. Nay, bà O không còn tình cảm gì đối với ông C, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, sống ly thân đã lâu, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Bà O làm nghề buôn bán phi nhựa, bồn nhựa làm bè nuôi cá thu nhập bình quân hàng tháng khoảng gần 100.000.000 đồng/tháng nên đủ điều kiện để nuôi các con phát triển bình thƣờng. Quá trình chung sống hai vợ chồng có 03 con chung gồm cháu: Đặng Hoàng Tuấn K, sinh ngày 10/5/2006, Đặng Ngọc B, sinh ngày 21/01/2008 và Đặng Hoàng Đăng K, sinh ngày 16/7/2012. Nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng O vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:

1. Về hôn nhân: yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Đặng Phúc C.

2. Về con chung: Yêu cầu đƣợc nuôi con chung Đặng Hoàng Tuấn K, sinh ngày 10/5/2006, Đặng Ngọc B, sinh ngày 21/01/2008 và Đặng Hoàng Đăng K, sinh ngày 16/7/2012, không yêu cầu ông Đặng Phúc C phải cấp dƣỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Đặng Phúc C và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thƣ ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Những ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã đƣợc Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hoàng O và ông Đặng Phúc C là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ đƣợc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng O. Về con chung: giao cháu Đặng Hoàng Tuấn K, sinh ngày 10/5/2006, Đặng Ngọc B, sinh ngày 21/01/2008 và Đặng Hoàng Đăng K, sinh ngày 16/7/2012 cho bà Nguyễn Thị Hoàng O trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, ghi nhận việc bà O không yêu cầu ông C phải cấp dƣỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng O khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Đặng Phúc C có đăng ký thƣờng trú tại địa chỉ: khu phố T, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; quan hệ pháp luật là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Bị đơn ông Đặng Phúc C đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Đặng Phúc C.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng O với bị đơn ông Đặng Phúc C tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng vào ngày 18/01/2006 và đƣợc Giấy chứng nhận kết hôn số 05/KH, quyển số 01/2006 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà O trong thời gian chung sống giữa bà O và ông C thời gian đầu hạnh phúc, đến cuối năm 2008 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thƣờng xuyên xảy ra tranh cãi, chồng thƣờng xuyên ăn nhậu với bạn bè, đam mê cờ bạc không quan tâm đến vợ con và gia đình. Gia đình đã nhiều lần phải đứng trả nợ thay cho ông C do thua cờ bạc với số tiền rất lớn nhƣng ông C vẫn không thay đổi. Hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2019 đến nay. Từ tháng 9/2019 đến nay bà O và các con về nhà mẹ ruột tại địa chỉ số 1/3A, khu phố Thắng Lợi 1, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để sinh sống. Nay, bà O không còn tình cảm gì đối với ông C, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, sống ly thân đã lâu, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập bị đơn ông Đặng Phúc C tham gia tố tụng nhƣng ông C vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày trƣớc yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông C vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà O và ông C là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, bà O yêu cầu đƣợc ly hôn với ông C là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Bà O và ông C có ba con chung tên Đặng Hoàng Tuấn K, sinh ngày 10/5/2006, Đặng Ngọc B, sinh ngày 21/01/2008 và Đặng Hoàng Đăng K, sinh ngày 16/7/2012. Bà O yêu cầu đƣợc nuôi con chung. Xét thấy, cháu K, Hân, K đang sống chung với bà O và có nguyện vọng sống với bà O, bà O có việc làm và thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện để nuôi con phát triển bình thƣờng. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu K, Hân, K cho bà O trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà O không yêu cầu ông C phải cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng O đối với ông Đặng Phúc C về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hoàng O đƣợc ly hôn với ông Đặng Phúc C (Giấy chứng nhận kết hôn số 05/KH, quyển số 01/2006 do Ủy ban nhân dân phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 18/01/2006).

- Về con chung: Giao con chung cháu Đặng Hoàng Tuấn K, sinh ngày 10/5/2006, Đặng Ngọc B, sinh ngày 21/01/2008 và Đặng Hoàng Đăng K, sinh ngày 16/7/2012 cho bà Nguyễn Thị Hoàng O trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ông Đặng Phúc C không phải cấp dƣỡng nuôi con.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở. Ngƣời không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con thì ngƣời đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ngƣời không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chƣa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hoàng O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng đƣợc khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004002 ngày 22 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ