- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? ử phạt bị cáo Dương Ngô Đ 01 (một) năm 01 (một) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/6/2021.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 166/2021/HSST Ngày 17 tháng 9 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư
Ông Trịnh Văn Nhất
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Bà Chu Ngọc Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 162/2021/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2021/QĐST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Ngô Đ, Sinh năm: 1980. Tên gọi khác: Không.
ĐKHKTT và nơi ở: Số nhà 37, đường Lê An, tổ dân phố Chi Ly 2, phường Trần Phú, thành phố B tỉnh B.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông: Dương Ngô Tiến, sinh năm: 1938; Con bà: Nguyễn Thị Lan, sinh năm: 1948; Anh, chị em ruột: có 4, bản thân là thứ 4. Vợ: Nguyễn Thị Huyền, sinh năm: 1990. Con: Có 01 con, sinh năm 2013. Tiền án: không; Tiền sự: không.
Nhân thân: Năm 2012 Trưởng công an phường Trần Nguyên Hãn, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định số 20/QĐ-XPVPHC ngày 02/6/2012.
- Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
1. Anh Cao Quốc C - sinh năm: 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà 19, đường Lê An, phường Trần Phú, thành phố B, tỉnh B
2. Anh Nguyễn Mạnh T - sinh năm: 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà 120, đường Lê An, phường Trần Phú, thành phố B, tỉnh B
3. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà 164, đường đê Chi ly, phường Trần Phú, thành phố B, tỉnh B
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 15 phút ngày 30/6/2021 tại khu vực trước cửa số nhà 19, đường Lê An, tổ dân phố Chi Ly 2, phường Trần Phú, thành phố B, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố B bắt quả tang Dương Ngô Đ, sinh năm 1980, trú tại số nhà 37, đường Lê An, tổ dân phố Chi Ly 2, phường Trần Phú, thành phố B có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01(một) gói giấy có mặt ngoài màu trắng, mặt trong có chữ và số, bên trong gói 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn), mở gói giấy ra kiểm tra bên trong có 02 (hai) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột màu trắng nghi ma túy Heroine, thu giữ tại mặt đường cạnh vị trí Đ đứng do Đ thả từ tay phải xuống. Ngoài ra còn tạm giữ của Đ 01 điện thoại Nokia màu vàng đã qua sử dụng. Tổ công tác tiến hành mời người chứng kiến, niêm phong tại chỗ vật chứng nghi ma tuý vào 01 (một) phong bì thư theo quy định, dẫn giải Đ về trụ sở Công an thành phố B để làm việc và lập biên bản phạm tội quả tang. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Quá trình điều tra, Dương Ngô Đ khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 30/6/2021, Đ đi từ nhà sang nhà chị Thủy ở số nhà 126 đường Vương Văn Trà, tổ dân phố Chi Ly 2, phường Trần Phú, thành phố Bắc iang (hàng xóm gần nhà Đ) mục đích mua ma tuý để sử dụng. Đến nơi, Đ h i và mua được qua khe cửa cuốn đã mở hé 400.000 đồng tiền ma tuý Heroine của một người phụ nữ trong nhà Thu . Sau khi mua được ma tuý, Đ cầm ở tay phải rồi đi về, khi đến cửa nhà Đ thì thấy có mảnh giấy (loại giấy lịch treo tường), Đ đã nhặt mảnh giấy đó gói lại số ma tuý vừa mua được và đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực trước cửa số nhà 19 đường Lê An, tổ dân phố Chi Ly 2, phường Trần Phú, thành phố Bắc iang, tỉnh Bắc iang thì bị lực lượng công an kiểm tra, Đ sợ hãi đã thả gói ma tuý đang cầm ở tay phải xuống đất chỗ Đ đang đứng nhưng bị lực lượng Công an phát hiện và thu giữ.
Đối với đối tượng Đ khai đã bán ma túy cho Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố B đã xác minh, xác định người phụ nữ tên Thu (hay gọi là Thu Mão) mà Đ đã khai là Phạm Thị Thanh Thu , sinh năm 1973, hiện ở: số nhà 126 đường Vương Văn Trà, tổ dân phố Chi Ly 2, phường Trần Phú, thành phố Bắc iang, tỉnh B, (có HKTT: Bến Phà, tổ dân phố Chi Ly 1, phường Trần Phú, thành phố Bắc iang, tỉnh B). Ngày 07/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thị Thanh Thu , khi Cơ quan điều tra tiến hành khám xét trong nhà có Thu , Nguyễn Khắc Thưởng, sinh năm 1968 (là chồng của Thu ), bà Hoàng Thị M , sinh năm 1947 (là m của Thưởng) và Phạm Ngọc Khôi, sinh năm 1971, trú tại số nhà 223 đường Trần Đăng Tuyển, tổ dân phố Chi Ly 2, phường Trần Phú, thành phố Bắc iang, tỉnh Bắc iang (là bạn của Thu ). Quá trình khám xét thu giữ: 01 cân tiểu ly điện tử màu đen trong tủ quần áo tại phòng ngủ tầng 1; nhiều mảnh giấy bạc đều có một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng tại ngăn kệ để tivi trong phòng ngủ tầng 1 được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu “K 2”; nhiều mảnh giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng thu tại phòng ngủ tầng 2 được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu “K 4”; tạm giữ của Thủy: 01 điện thoại di động Iphone 6, 01 điện thoại di động Iphone 7Plus đều đã qua sử dụng, 01 xe ô tô nhãn hiệu VIOS, BKS: 98A – 20660, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe BKS 98A-20660, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS xe ô tô 98A- 20660, 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Thị Thanh Thu , 01 giấy chứng nhận đăng ký xe BKS 98A- 20660, số tiền 20.100.000 đồng; tạm giữ của Khôi: 01 điện thoại Iphone 6S đã qua sử dụng, 01 chứng minh thư nhân mang tên Phạm Ngọc Khôi, 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA ave màu sơn đ , BKS: 98B3- 673.97; tạm giữ của Thưởng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO đã qua sử dụng, 01 ví da màu nâu, 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Khắc Thưởng và số tiền 80.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã lấy lời khai Thủy và cho Đ đối chất với Thu nhưng Thu không thừa nhận việc đã bán ma túy cho Đ nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Thủy về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại của Thu và những người liên quan, kết quả: không có nội dung liên quan đến ma tuý nhưng phát hiện trong điện thoại của Thu và Khôi có các tin nhắn văn bản và tin nhắn ứng dụng alo có nội dung đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với nhau. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc iang đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Thanh Thu về hành vi “Đánh bạc” và tách những vật chứng đã thu giữ khi khám xét nhà Thủy để xử lý theo vụ án "Đánh bạc".
Số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Đ, cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định, tại kết luận giám định số 1077/KL-KTHS ngày 05/7/2021 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: “Trong 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong gửi giám định: Trong 01 (một) gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong có chữ và số, bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng (dạng giấy ăn): Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,225 gam, loại Heroine”.
Bản cáo trạng số 163/CT-VKS ngày 31 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Dương Ngô Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên trong phần luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng, đề nghị HĐ áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 13 (mười ba) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/6/2021.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn cho bị cáo vì là đối tượng nghiện ma túy, nghề nghiệp là lao động tự do, thu nhập không ổn định.
Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2, khoản 3 điều 106 BLTTHS, đề nghị:
+ Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong trong 01 phong bì thư có chữ ký của giám định viên và người liên quan, dấu của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh B.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 cuốn lịch treo tường.
+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra kiểm sát viên còn đề nghị xem xét án phí, quyền kháng cáo của bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Ngô Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì, xin HĐ xem xét giảm nh hình phạt. Đối với tài sản bị thu giữ là cuốn lịch treo tường là của gia đình, bị cáo không yêu cầu trả lại, điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo xin HĐ trả lại cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại, HĐ đánh giá hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của những người chứng kiến, phù hợp với thời gian, địa điểm, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 45 phút ngày 30/6/2021 tại công an thành phố B cũng như vật chứng thu giữ được. Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng kết luận giám định số 1077/KL-KTHS ngày 05/7/2021 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh B đã kết luận: “Trong 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong gửi giám định: Trong 01 (một) gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong có chữ và số, bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng (dạng giấy ăn): Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,225 gam, loại Heroine”. Từ lời khai của bị cáo, người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định: Hồi 13 giờ 15 phút ngày 30/6/2021 tại khu vực trước cửa số nhà 19, đường Lê An, tổ dân phố Chi Ly 2, phường Trần Phú, thành phố B, bị cáo Dương Ngô Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy heroine, có khối lượng 0,225 gam.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến lĩnh vực quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy mà còn gây những tác hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, đe dọa sức kh e, tính mạng con người, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm nguy hiểm khác. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ Luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bản cáo trạng số 163/CT-VKS ngày 31/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh B đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, không nghề nghiệp ổn định, không có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố được tặng thưởng huân chương kháng C hạng ba, m được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng C hạng nhất nên được áp dụng tình tiết giảm nh TNHS theo khoản 2 điều 51 BLHS.
Đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự của bị cáo Dương Ngô Đ, HĐ xét thấy cần buộc bị cáo phải cách ly kh i đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi, tội phạm về ma túy đang ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội hiện nay, khi lượng hình HĐ có xem xét các tình tiết giảm nh TNHS để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo theo mức hình phạt kiểm sát viên đề xuất là phù hợp.
.Về hình phạt bổ sung: ét bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, thu nhập, nghiện ma túy, nên HĐ miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với số ma túy còn lại sau khi giám định là 0,182gam heroin được niêm phong trong một phong bì thư có chữ ký của giám định viên và người liên quan, là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 cuốn lịch treo tường của gia đình bị cáo đã nộp, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu vàng đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
. Đối với đối tượng tên Phạm Thị Thanh Thủy là người Đ khai đã mua ma túy, song quá trình điều tra Thủy không thừa nhận, ngoài lời khai của Đ, không có chứng cứ nào khác chứng minh Thủy đã bán ma túy cho Đ, do đó cơ quan điều tra và Viện kiểm sát xác định không có căn cứ xử lý Thủy về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, HĐ xét thấy là phù hợp.
.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 21, 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38; Điểm a, c khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; Căn cứ khoản 2, khoản 3 điều 106; điều 135, điều 136, điều 331, điều 332, điều 333, điều 336, điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
ử phạt bị cáo Dương Ngô Đ 01 (một) năm 01 (một) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/6/2021.
- Về vật chứng:
+Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định 0,182 gam heroine được niêm phong trong một phong bì thư có dấu của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh B, chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu.
+Tịch thu tiêu hủy 01 cuốn lịch treo tường.
+ Trả lại cho bị cáo Đ 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu vàng, số seri 1 là 354267069928112, số seri 2 là 354267069928130 đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND, VKSND Tỉnh B
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP B
- Chi cục THADS TP B
- Công an TP B
- Sở Tư pháp Tỉnh B
- Những người T TT;
- Lưu.
Nguyễn Thị Hằng HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -VKSND TP B -TAND, VKSND Tỉnh B -THADS TP B -Công an TP B -Những người T TT; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hằng |