vanban.org

Bản án 166/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 10/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Đoàn D phạm tội tàng trữ trái phép

chất ma túy. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mai Đoàn D 01 (một) năm tù; thời hạn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Đoàn D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Đoàn D phạm tội tàng trữ trái phép
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 166/2019/HS-ST
Ngày 10 -10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Đức Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phùng Mạnh Cường

Ông Hoàng Đức Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lành Thị Thanh Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn

tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng

Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số

150/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số 157/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Mai Đoàn D, sinh ngày 18/01/1985 tại Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú

và chỗ ở: Số 13B/7, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề

nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn

giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Xuân L và bà Hoàng Thị T; vợ

Trương Thị Thanh N; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm

2018; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2019 đến

nay, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Mai Xuân L;

Nơi cư trú: Số 13B/7, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, có

mặt.

- Người chứng kiến: Ông Đinh Mạnh T, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 20/6/2019, tổ công tác

của Công an thành phố Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa tập thể Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn thuộc đường B, phường T, thành phố L phát hiện đối tượng Mai Đoàn D điều khiển mô tô đi từ trong ngõ 195 đường B, phường T, thành phố L có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác đã tiến hành dừng xe để kiểm tra phát hiện tại vị trí giá để đồ bằng kim loại, đặt trên nắp bình xăng phía trước yên xe có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 02 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 250/KL-PC09 ngày 25/6/2019 của Phòng

Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong hai gói giấy gửi đến giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng là 0,192 gam (đã trừ bì).

Tại bản cáo trạng số 154/CT-VKS-MT ngày 04/9/2019 Viện kiểm sát

nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Mai Đoàn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Đoàn D khai nhận: Do mắc nghiện ma túy từ

năm 2015 nên đang phải uống thuốc Methadone để cai nghiện ma túy. Khoảng 9 giờ sáng ngày 20/6/2019, sau khi uống thuốc Methadone tại Trung tâm điều trị, bị cáo điều khiển xe mô tô AirBlade biển kiểm soát 49E1- 489.74 đến ngõ 195 đường B, phường T, thành phố L tìm mua ma túy với một người đàn ông tên "Đ" không rõ tên, địa chỉ. Bị cáo hỏi mua 100.000 đồng ma túy Heroine được Đ đồng ý; bị cáo đưa cho Đ 100.000 đồng, sau đó Đ đưa cho bị cáo 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có ma túy Heroine. Bị cáo cầm vỏ bao thuốc lá kẹp vào giá để đồ bằng kim loại, phía trước yên xe mô tô rồi điều khiển đi ra đầu ngõ để tìm nơi sử dụng. Tuy nhiên khi mới ra khỏi ngõ được một đoạn thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ niêm phong số ma túy trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn phát biểu quan điểm

giải quyết vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mai Đoàn D thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên nội dung truy tố như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Đoàn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Đoàn D từ 12 tháng đến 15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106

của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy một phong bì đựng chất ma túy đã niêm phong hoàn lại sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng; trả lại bị cáo chiếc điện thoại di động IPhone 6 màu vàng số Imei 356680083286889 đã sử dụng. Xác nhận Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô AirBlade biển kiểm soát 49E1- 489.74 cho ông Mai Xuân L đầy đủ. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ

án không có ý kiến tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm

tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị

cáo sớm trở về với gia đình và xã hội .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo Mai Đoàn D tại phiên tòa phù hợp với biên bản

phạm tội quả tang, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong

hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà. Như vậy có đủ căn cứ

khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị

cáo Mai Đoàn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều

249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã

hội, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo nhâ ân thức được tác hại của

ma túy và biết viê âc mua bán, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy là vi

phạm pháp luật, ảnh hưởng tới sức khỏe, thiệt hại về kinh tế của cá nhân và gia

đình, đồng thời là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác,

nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Về nhân thân: Bị cáo Mai Đoàn D được gia đình nuôi ăn học hết lớp

12 phổ thông đến nay không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Tuy nhiên, do

bị bạn bè lôi kéo nên đã sử dụng trái phép chất ma túy, vì vậy phải xử lý nghiêm.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Mai Đoàn D không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo

Mai Đoàn D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là ông Mai

Xuân L được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương chiến công và Huân

chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhì, bà Hoàng Thị T là mẹ đẻ được tặng Huy

chương kháng chiến hạng nhất. Đó tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản

1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình

tiết giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát

tại phiên tòa là có căn cứ, bởi lẽ bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Vì vậy, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết, để bị

cáo có thời gian chữa bệnh và lao động, sớm trở thành người có ích cho gia đình

và xã hội, góp phần răn đe và phòng ngừa tội phạm tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh về tài sản và thu nhập

ngày 30/7/2019 xác định bị cáo Mai Đoàn D không có nghề nghiệp, sống phụ

thuộc vào gia đình và không tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình

phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong

quá trình điều tra, truy tố xét xử không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xử lý vật chứng: Gồm một phong bì đựng chất ma túy đã niêm

phong hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng không có giá trị nên tịch thu để tiêu hủy. Đối với xe máy mô tô AirBlade, màu đen biển kiểm soát 49E1 - 489.74 đăng ký mang tên bị cáo, tuy nhiên số tiền để mua xe là của ông Mai Xuân L (bố của bị cáo). Việc bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy, ông Lụa không biết. Ngày 05/8/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại ông Mai Xuân L để sử dụng. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Riêng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6 màu vàng số Imei 356680083286889, đang tạm giữ không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo sử dụng là phù hợp.

Đối với người đàn ông tên "Đ" đã bán ma túy cho bị cáo tại ngõ 195

đường B, phường T, thành phố L. Do bị cáo không xác định họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trong vụ án. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí

hình sự sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38;

Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Đoàn D phạm tội tàng trữ trái phép

chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mai Đoàn D 01 (một) năm tù; thời hạn

chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (20/6/2019)

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một phong bì đựng chất ma túy đã

niêm phong hoàn lại sau giám định, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng số Imei 356680083286889 đã sử dụng;

(Vật chứng nói trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự

thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn)

4. Án phí: Bị cáo Mai Đoàn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng)

án phí hình sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng

cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ