vanban.org

Bản án 166/2019/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 25/06/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Văn Q tù Chung thân.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn Q phải chịu 200.000 đồng theo quy định của pháp luật. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Q - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Văn Q tù Chung thân.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 166/2019/HS-PT
Ngày: 25 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Mai Xuân Thành

Các thẩm phán:

Ông Trần Minh Tuấn

Ông Nguyễn Tấn Trường

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Đức, cán bộ Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 199/2019/TLPT-HS ngày 16/5/2019 đối với bị cáo Lê Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 10/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Văn Q; tên gọi khác Q Trọc; sinh ngày 20 tháng 01 năm 1984, tại Đà Nẵng; nơi cư trú: Tổ 03, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; nguyên làm nghề: cắt tóc; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Châu và bà Phan Thị V; có vợ tên Lê Thị Cát Tường (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Ngày 04-3-2011, bị Tòa án nhâ dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 08 năm tù về tội “Vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 11-5-2010; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16-10-2000, bị Tòa án nhân quận S, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26- 7-2018. Có mặt.

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo theo yêu cầu của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Luật sư Ông Quốc C - Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng. Có mặt. Ngoài ra trong vụ án còn có 06 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập tham gia phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 15 giờ 45 phút chiều ngày 26-7-2018, tại Cây xăng HK, thuộc tổ 37, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Đà Nẵng tiến hành bắt quả tang đối với Lê Văn Q về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ của Q gồm:

- 04 gói nylon màu trắng (kích thước 6x8cm) bên trong có chứa các viên nén màu xanh hình giọt nước. Được niêm phong ký hiệu A;

- 01 gói nylon màu đen, có dán mảnh giấy ghi: “A Q 0898234545”;

- Tiền Việt Nam: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng);

- 01 điện thoại di động hiệu Itel, màu đen, có gắn sim số 0901154499;

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, có gắn sim số 0898234545 và sim số 0906417084;

- 01 Giấy chứng minh nhân dân số 201459199, do Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 14-01-2017 cho Lê Văn Q. Lê Văn Q khai, số ma túy nói trên do Q gọi điện thoại đặt mua của Ân (không xác định được nhân thân, lai lịch) ở Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 11 giờ ngày 25-7-2018, với tổng lượng ma túy là 400 viên (thuốc lắc), giá mỗi viên là 250.000 đồng; 17 giờ cùng ngày, ngày Ân điện thoại báo đã gửi 400 viên ma túy ra Đà Nẵng cho Q theo đường xe khách; ma túy dược giấu trong túi nylon đựng áo quần màu đen, bên ngoài có ghi tên Q và số điện thoại để nhận; ngay sau đó Q chuyển số tiền 100 triệu đồng cho Ân thông qua dịch vụ chuyển tiền tại cửa hàng Đ. Đến 15 giờ 45 phút ngày 26-7-2018, Q đến Cây xăng HK để nhận ma túy thì bị Công an bắt quả tang như nói trên. Qua mở rộng điều tra, đến 18 giờ ngày 26-7-2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Đà Nẵng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn Q, tại tổ 3, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Tang vật thu giữ tại nơi ở của Q gồm: 01 gói nylon màu đen, bên ngoài có dán mảnh giấy ghi: “Q Trần - 0906417087 - (Đà Nẵng)”, tình trạng đã được xé ra; 190 bao nylon màu trắng (kích thước khoảng 3x6cm) chưa qua sử dụng; tiền Việt Nam: 46.000.000 đồng; và tại phòng mẹ đẻ của Q là bà Phan Thị V, phát hiện thu giữ: 02 gói nylon màu trắng (kích thước khoảng 3x6cm) bên trong mỗi gói có chứa tinh thể rắn màu trắng và 02 gói nylon màu trắng (kích thước khoảng 2,5x2,5cm) bên trong mỗi gói có chứa tinh thế rắn màu trắng, 04 gói này được niêm phong ký hiệu B1; 01 gói nylon màu trắng (kích thước khoảng 3x6cm) bên trong có chứa chất bột màu trắng, được niêm phong ký hiệu B2; 01 gói nylon màu trắng (kích thước khoảng 3x6cm) bên trong có chứa 10 viên nén màu xanh hình bông hoa, được niêm phong ký hiệu B3; 01 cân điện tử; tiền Việt Nam: 159.700.000 đồng.

Sau khi bị bắt Lê Văn Q khai nhận, khi Q liên hệ mua ma túy lần thứ hai của Ân (lúc 11 giờ ngày 25-7-2018), thì Ân có giới thiệu với Q về loại ma túy tổng hợp mới là Hàng Khay (Ketamine) để Q dùng thử và bán cho người nghiện; nếu bán được thì mới trả tiền còn không thì gửi trả lại cho Ân. Q đồng ý nên Ân đã gửi 50 gam ma túy loại Ketamine, giá 30.000.000 đồng về Đà Nẵng cho Q; số ma túy này được Ân dấu trong hai chậu cây cảnh, rồi gửi qua xe khách của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại vận tải MP. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng đã thu giữ tại Văn phòng Chi nhánh Công ty MP tại Đà Nẵng, địa chỉ 190 đường L1, quận C1, thành phố Đà Nẵng được: 06 gói nylon màu trắng (kích thước khoảng 4x8cm), bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu A1; 04 gói nylon màu trắng (kích thước khoảng 4x8cm), bên trong chứa chất bột màu trắng, được niêm phong ký hiệu A2; 01 vỏ bao nylon màu xanh, có dán một mảnh giấy trắng (kích thước khoảng 15x20cm), trên mảnh giấy có chữ: “Anh Q 0898234545 Đà Nẵng”.

Quá trình điều tra xác định, Lê Văn Q là đối tượng nghiện ma túy; để có ma túy sử dụng và bán lại cho người khác, từ khoảng tháng 5-2018 đến ngày 26-7-2018 Q đã ba lần mua ma túy của các đối tượng tên Ân và Bin (không rõ nhân thân, lai lịch) về bán cho các đối tượng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, cụ thể:

- Lần thứ nhất, khoảng tháng 5-2018, Q liên hệ với Bin để mua 10.000.000 đồng ma túy loại Hàng khay và hẹn đến quán Cà phê trên đường N1, thành phố Đà Nẵng để giao tiền và nhận ma túy.

- Lần thứ hai, khoảng cuối tháng 5-2018 đầu tháng 6-2018, Q gọi điện cho Ân hỏi mua 200 viên ma túy (loại thuốc lắc), Ân báo giá 250.000 đồng viên và Q đồng ý. Ân bỏ 200 viên ma túy vào trong bao nylon chứa quần áo màu đen rồi gửi cho Q theo đường xe khách đến Bến xe trung tâm thành phố Đà Nẵng; còn Q chuyển số tiền 50.000.000 đồng cho Ân thông qua dịch vụ chuyển tiền tại cửa hàng Đ.

- Lần thứ ba, ngày 25-7-2018, Q mua của Ân là 400 viên ma túy (loại thuốc lắc), giá mỗi viên là 250.000 đồng và 50 gam ma túy loại Ketamine, giá 30.000.000 đồng; khi nhận ma túy thì Q bị bắt quả tang. Số ma túy mua của Bin và Ân nói trên, Q sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện gồm:

- Bán cho Nguyễn Hữu Ngà bốn lần, cụ thể: Lần thứ nhất, bán cho Ngà 01 viên ma túy (thuốc lắc), giá 300.000 đồng; lần thứ hai, bán cho Ngà 03 viên ma túy (thuốc lắc), giá 900.000 đồng; lần thứ ba đầu tháng 5-2018, bán cho Ngà 03 viên ma túy (thuốc lắc), giá 900.000 đồng và 01 chỉ ma túy Kentamine (Khay), giá 2.000.000 đồng; lần thứ tư đầu tháng 7-2018, bán cho Ngà 03 viên ma túy (thuốc lắc), giá 900.000 đồng.

- Bán cho Phạm Ngọc M1 ba lần, cụ thể: Từ giữa tháng 7-2019, bán cho M1 ba lần (cách nhau vài ngày), mỗi lần từ khoảng 2 đến 3 viên ma túy (thuốc lắc), giá 300.000 đồng/viên. Bán cho Lê Minh L2 hai lần, cụ thể: Khoảng ngày 16, 17-7-2018, bán cho L2 20 viên ma túy (thuốc lắc), giá 6.000.000 đồng; ngày 24-7-2018, bán cho L2 30 viên ma túy (thuốc lắc), giá 9.000.000 đồng và 03 chỉ ma túy (Khay), giá 6.000.000 đồng.

- Bán cho Trần Đình Đăng K một lần, cụ thể: Khoảng ngày 15-6-2018, bán cho K 10 viên ma túy (thuốc lắc), giá 2.700.000 đồng. Kết luận giám định số: 145/GĐ-MT ngày 02-8-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng, xác định:

- Các viên nén màu xanh trong gói niêm phong ký hiệu A và B3 đều là ma túy, loại MDMA, khối lượng viên nén mẫu A: 157,70 gam; mẫu B3: 3,999 gam.

- Tinh thể rắn màu trắng trong gói niêm phong ký hiệu BI và chất bột màu trắng trong gói niêm phong ký hiệu B2 đều là ma túy, loại Ketamine, khối lượng tinh thể mẫu BI: 14,557 gam; chất bột mẫu B2: 9,773 gam. Kết luận giám định số: 147/GĐ-MT ngày 03-8-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng, xác định: Tinh thể trong gói niêm phong ký hiệu AI và bột màu trắng trong gói niêm phong ký hiệu A2 đều là ma túy, loại Ketamine, khối lượng Al: 30,050 gam; A2: 19,722 gam. Với nội dung trên tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 10/4/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng đã quyết định: 1. Căn cứ vào điểm h khoản 4 Điều 251; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn Q tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26 tháng 7 năm 2018.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí xử lý tang vật và quyền kháng cáo của bị cáo:

Ngày 14 tháng 4 năm 2019 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Lê Văn Q vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp Cao tại Đà Nẵng đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn Q. Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn Q, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo sửa án sơ thẩm theo hướng giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai nhận của bị cáo, ý kiến người bào chữa và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan toàn diện và đầy đủ chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Từ khoảng tháng 5-2018 đến ngày 26-7-2018, bị cáo Q đã có hành vi ba lần mua ma túy của các đối tượng tên Ân và Bin về bán cho các đối tượng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, cụ thể:

Lần thứ nhất, khoảng tháng 5-2018, Q mua ma túy loại Ketamine của Bin với giá 10.000.000 đồng. Q mang về bán lại cho Nguyễn Hữu N1 01 chỉ, giá 2.000.000 đồng và bán cho Lê Minh L2 03 chỉ, giá 6.000.000 đồng. Còn lại 24,33 gam ma túy loại Ketamine bị Công an thu giữ tại nơi ở của Q.

Lần thứ hai, khoảng cuối tháng 5-2018 - đầu tháng 6-2018, Q mua của Ân 200 viên ma túy loại MDMA, với giá 50.000.000 đồng. Q mang về sử dụng và bán lại cho các đối tượng xác định được là Nguyễn Hữu N1 10 viên, giá 3.000.000 đồng; Trần Đình Đăng K 10 viên, giá 2.700.000 đồng; Phạm Ngọc M1 khoảng 6 đến 9 viên, giá 300.000 đồng/viên; Lê Minh L2 50 viên, giá 15.000.000 đồng. Còn lại 10 viên ma túy loại MDMA, có tổng khối lượng 3,999gam bị Công an thu giữ tại nơi ở của Q.

Lần thứ ba, ngày 25-7-2018, Q mua của Ân là 400 viên ma túy loại MDMA, với giá 100.000.000 đồng và 50 gam ma túy loại Ketamine, giá 30.000.000 đồng, số ma túy này bị Công an bắt quả tang khi Q mới nhận xong và thu giữ khi đã chuyển về đến Đà Nẵng cho Q. Giám định được 400 viên ma túy loại MDMA, có tổng khối lượng 157,70 gam và ma túy loại Ketamine, có khối lượng 49,772 gam. Kết luận giám định số: 145/GĐ-MT ngày 02-8-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng, xác định:

- Các viên nén màu xanh trong gói niêm phong ký hiệu A và B3 đều là ma túy, loại MDMA, khối lượng viên nén mẫu A: 157,70 gam; mẫu B3: 3,999 gam.

- Tinh thể rắn màu trắng trong gói niêm phong ký hiệu BI và chất bột màu trắng trong gói niêm phong ký hiệu B2 đều là ma túy, loại Ketamine, khối lượng tinh thể mẫu BI: 14,557 gam; chất bột mẫu B2: 9,773 gam. Kết luận giám định số: 147/GĐ-MT ngày 03-8-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng, xác định: Tinh thể trong gói niêm phong ký hiệu AI và bột màu trắng trong gói niêm phong ký hiệu A2 đều là ma túy, loại Ketamine, khối lượng Al: 30,050 gam; A2: 19,722 gam. Với hành vi phạm tội nêu trên bị cáo Lê Văn Q bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h, khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự là đúng pháp luật. [2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo Lê Văn Q thực hiện nhiều lần hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo hình phạt tù không thời hạn theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật hình sự là thỏa đáng, không nặng.Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới cần được xem xét, do vậy đơn kháng cáo của bị cáo Q không được chấp nhận. [3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn Q phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự. 1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn Q. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2019/HS-ST ngày 10/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng Căn cứ vào điểm h khoản 4 Điều 251; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn Q tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26 tháng 7 năm 2018.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn Q phải chịu 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ