vanban.org

Bản án 166/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Ngô Thị Kim Kh yêu cầu ly hôn Ông Nguyễn Đồng Ng"
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 166/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 5 - 2019
V/v tranh chấp “Hôn nhân gia đình
- Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thái Quân

2. Ông Đặng Văn Tác

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Đức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 15/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2019, về tranh chấp “Hôn nhân gia đình - Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2019 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kim Kh, sinh năm 1974;

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đồng Ng, sinh năm 1971;

Cùng địa chỉ: ấp Phú H, thị trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(Bà Kh có mặt, ông Ng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 25/12/2018, bản tự khai và tại phiên tòa Ng đơn bà Ngô Thị Kim Kh trình bày: Sau khi tìm hiểu, bà và ông Ng được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới năm 1996, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Lâm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (giấy chứng nhận kết hôn số 03/1996, ngày 26/3/1996), thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm, Ng nhân do ông Ng thường xuyên uống rượu say sỉn, cờ bạc, chửi mắng vợ, bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được, sự việc kéo dài nhiều năm, vì thương con nên bà cố chịu đựng; đến cuối năm 2018 ông Ng bỏ đi, bà và ông Ng mỗi người đi làm ăn mỗi nơi, không ai quan tâm ai, vợ chồng chính thức ly thân đến nay. Hiện tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Đồng Ng. Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Thị Kỳ H, sinh ngày 16/5/1997 và Nguyễn Quỳnh H, sinh ngày 25/4/2000 đã trưởng thành và tự lập được. Riêng Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 26/4/2002 đang sống với bà Kh, yêu cầu được tiếp tục nuôi con đến khi con thành niên hoặc tự lập được, không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Nguyễn Đồng Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên ông Ng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là chấp hành pháp luật chưa nghiêm.

- Về nội dung: Hôn nhân của bà Kh, ông Ng được xác lập trên cơ sở tự tìm hiểu, tự nguyện, cha mẹ hai bên đều đồng ý có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của bà Kh xin ly hôn và nuôi con chung là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề xuất nội dung giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Kh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Ng, yêu cầu được nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Đồng Ng là bị đơn có nơi cư trú tại tổ 8, ấp Phú H, thị trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Ông Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Ng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà Kh yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Ng, yêu cầu được nuôi con chung. Xét chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa thể hiện, hôn nhân của ông, bà được xác lập năm 1996 trên cơ sở tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, bà và ông Ng mỗi người đi làm ăn mỗi nơi, không ai quan tâm ai, vợ chồng chính thức ly thân từ năm 2018 đến nay, cả hai không hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; điều này phù hợp lời trình bày của cháu Nguyễn Thị Kỳ H (con ông Ng, bà H), bà Phan Thị H (người làm chứng) và ông Trần Thanh Q (là Trưởng ấp Phú H, thị trấn Chợ V huyện Phú T, tỉnh An Giang), do đó, bà Kh yêu cầu ly hôn là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Ông bà có 03 con chung tên Nguyễn Thị Kỳ H, sinh ngày 16/5/1997 và Nguyễn Thị Quỳnh H, sinh ngày 25/4/2000 đã trưởng thành và tự lập được. Riêng Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 26/4/2002 đang sống với bà Kh và yêu cầu được tiếp tục nuôi đến khi con thành niên hoặc tự lập được, không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng cho con. Xét, từ khi ly thân đến nay cháu Nguyễn Thị Hồng H do bà Kh trực tiếp chăm sóc, giáo dục, đảm bảo phát triển bình thường về thể chất, tinh thần, cháu có nguyện vọng sống với mẹ, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần giao Hồng H cho bà Kh tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến thành niên hoặc tự lập được; ông Ng không phải cấp dưỡng cho con; bà Kh phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi ông Ng đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con; mặt khác, nếu có căn cứ cho rằng, bà Kh không còn đảm bảo các điều kiện nuôi dạy con hoặc có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con thì có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Ghi nhận lời trình bày đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có Ng đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Kh, ông Ng phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét. [3] Về án phí: Bà Kh phải án phí theo qui định pháp luật. Ông Ng không phải chịu án phí. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử: Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Kim Kh được ly hôn với ông Nguyễn Đồng Ng. Về con chung: Bà Ngô Thị Kim Kh được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Hồng H, sinh ngày 26/4/2002 đến thành niên hoặc tự lập được; ông Nguyễn Đồng Ng không phải cấp dưỡng cho con. Đối với con chung tên Nguyễn Thị Kỳ H, sinh ngày 16/5/1997; Nguyễn Quỳnh H, sinh ngày 25/4/2000 đã trưởng thành, không yêu cầu xem xét giải quyết. Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ngô Thị Kim Kh phải chịu án phí hôn nhân, gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005404 ngày 09/01/2019 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (đã nộp đủ). Ông Nguyễn Đồng Ng không phải chịu án phí. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Ng được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ