- Tranh chấp gì? án hình sự — "N.D.P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N.D.P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2025/HS-ST Ngày 17-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Định.
Ông Nguyễn Hồng Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2025/ QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 đối với:
Bị cáo: N.D.P, sinh năm 20... tại thành phố Hà Nội. Căn cước số: xxxxxxx. Nơi thường trú: Thôn N, xã N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông N.D.K1, sinh năm 1978 và bà N.T.M.H, sinh năm 1970; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Có vợ là L.T.T.M, sinh năm 2002 và 01 con là L.H.Đ.K2, sinh năm 2021; Tiền án: Ngày 24/10/2022, bị Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị bắt quả tang ngày 01/10/2025, tạm giữ từ ngày 01/10/2025, tạm giam từ ngày 07/10/2025; Danh chỉ bản số 3286, lập ngày 07/10/2025 tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 00 phút ngày 01/10/2025, tổ công tác phòng chống tội phạm Công an xã Đ làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phòng chống tội phạm trên địa bàn khu vực thôn I, xã Đ, thành phố Hà Nội, phát hiện N.D.P đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay trái của P có 01 túi nilông bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy tổng hợp dạng đá. Tại chỗ, P khai túi nilông trong chứa tinh thể màu trắng bị thu giữ là ma tuý đá, P mua về để sử dụng nhưng chưa kịp dùng, thì bị Công an bắt quả tang, lập biên bản thu giữ tang vật và đưa P về trụ sở làm việc.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội trưng cầu giám định đối với tinh thể màu trắng thu giữ của N.D.P. Tại Kết luận giám định số 6852/KL-KTHS ngày 10/10/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,281 gam.
Tại Cơ quan Công an, N.D.P khai: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 01/10/2025, P đi lên khu vực gần ngã ba chợ Q, xã Đ, thành phố Hà Nội để gặp và mua ma túy của 01 người đàn ông không quen biết với giá 400.000 đồng, người đàn ông đưa cho P 01 túi nilông bên trong chứa ma túy dạng đá. P cầm số ma túy trên trong lòng bàn tay trái và đi về nhà sử dụng. Khi đi đến khu vực thôn I, xã Đ, thành phố Hà Nội, P bị Công an phát hiện, lập biên bản bắt quả tang. Tổ công tác xét nghiệm P dương tính với ma túy Methamphetamine.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho N.D.P: P khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Tại Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 25/11/2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội truy tố N.D.P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo P khai đã thực hiện hành vi như Cáo trạng truy tố, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của N.D.P, đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N.D.P mức án từ 40 tháng đến 44 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo P phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 01/10/2025, tại khu vực thôn I, xã Đ, thành phố Hà Nội, N.D.P đang tàng trữ trái phép 0,281 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân, thì bị Công an xã Đ bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với chất ma túy. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, hành vi của bị cáo N.D.P có đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N.D.P thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N.D.P có 01 tiền án chưa được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về quyết định hình phạt: Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm: c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của N.D.P, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, do bị cáo N.D.P không có nghề nghiệp, tài sản, nên Tòa án không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,281 gam Methamphetamine thu giữ của N.D.P, là vật cấm tàng trữ, cần phải tịch thu tiêu hủy.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo N.D.P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho N.D.P: P khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là đúng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo N.D.P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt N.D.P 44 (Bốn mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với N.D.P.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì sau giám định của PC09- Công an thành phố Hà Nội được niêm phong dán kín, ở mép dán có chữ ký của N.D.P, giám định viên T.N.C, cán bộ Công an xã Đ.H.N, còn nguyên niêm phong, không kiểm tra bên trong niêm phong. Vật chứng đang được bảo quản tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/11/2025.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo N.D.P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo N.D.P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Tp. Hà Nội; - VKSND khu vực 11 - Hà Nội; - Cơ quan CSĐT - Công an Tp. Hà Nội; - Trại tạm giam số 2 - Công an Tp. Hà Nội; - Phòng THADS khu vực 11 - Hà Nội; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Nam |