- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Trần Xuân T và ông Trần Sỹ N "tranh chấp về việc “Đòi nợ do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền”"
- Tòa quyết gì? Án phí d n sự phúc th m: Bà Trần Thị D phải nộp 300.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2024/DS-PT Ngày 30-8-2024 V/v tranh chấp về việc “Đòi nợ do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành ph n H i đ ng x t x phúc th m g m có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Cảnh
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Anh Dũng
Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông B i Ngọc Qu nh - Thư ý Tòa án nh n d n t nh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nh n d n t nh Nam Định x t xử phúc th m c ng hai vụ án d n sự thụ lý số 157/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024.
Do bản án d n sự số 01/2024/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Toà án nh n d n huyện Mỹ Lộc, t nh Nam Định bị háng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử phúc th m số 286/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định ho n phiên toà số 74/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 8 năm 2024 gi a các đương sự:
I. Nguyên đơn: Ông Trần Xu n T, sinh năm 1970 (đ chết). Người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ng Trân Xuân T1:
1. Bà Trần Thị D sinh năm 1978;
2. Chị Trần Thị Hải Y sinh năm 2000;
3. Anh Trần Xu n T2 sinh năm 2006. Người đại diện theo pháp luật của anh Trần Xu n T2 là bà Trần Thị D.
C ng địa ch số A P, phường T, thành phố N, t nh Nam Định.
* Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị D và chị Trần Thị Hải Y: Anh Nguyễn Văn Q sinh năm 1984, địa ch : Đ, th n Đ, x H, thị x K, t nh Hải Dương. Văn bản uỷ quyền ngày 28-8-2023.
II. Bị đơn: Ông Trần Sỹ N, sinh năm 1970; địa ch : Xóm G, x M, huyện M, t nh Nam Định.
III. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị O, sinh năm 1974. Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị O: Ông Trần Sỹ N sinh năm 1970; C ng địa ch : Xóm G, x M, huyện M, t nh Nam Định. Văn bản uỷ quyền ngày 04-3-2024.
IV. Người làm chứng: Ông Vũ Tiến D1, sinh năm 1984 Địa ch : Số D Y, hu đ thị H, thành phố N, t nh Nam Định.
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị D.
Tại phiên tòa phúc th m: Anh Nguyễn Văn Q, bà Trần Thị D có mặt, ng Trần Sỹ N và bà Trần Thị O đ được tống đạt hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lí do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trình bày:
Khoảng năm 2012, năm 2013, ng Trần Xu n T bán cho ông Trần Sỹ N gỗ lim Lào. Do quen biết từ trước nên ng T có cho vợ chồng ng Trần Sỹ N nợ số tiền mua gỗ. Ông T đ nhiều lần yêu cầu ng N thanh toán nợ nhưng ng N hất lần, hất lượt h ng trả. Ngày 22-3-2013, ông N có viết giấy nhận nợ cho ng T với nội dung “22-3-2013 nợ lại tiền gỗ tổng 2.994.550 (hai tỷ chín trăm chín tư triệu năm trăm năm mươi ngàn”. Tuy vậy thời gian sau gi a ng T với ng N vẫn thực hiện việc mua bán gỗ. Ngoài ra, ng T còn cho ông N vay tiền để làm ăn. Đến ngày 30-3-2019, ông N đ viết giấy nhận nợ với ng T có nội dung “nam định ngày 30.3.2019 tổng nợ tiền gốc, l i 4.944.000.000 (Bốn tỷ, chín trăm bốn mươi bốn triệu) đồng, hẹn trong tháng 3 m lịch sẽ trả một nửa số nợ trên”. Tại phiên toà sơ th m phía nguyên đơn thừa nhận số tiền 4.944.000.000 (Bốn tỷ, chín trăm bốn mươi bốn triệu) đồng là tiền gốc và l i của số tiến ghi trong giấy nhận nợ ngày 22-3-2013. Tính đến tháng 6-2020, ông N mới trả được tổng 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng). Ngày 07-6-2020, ông N viết giấy có nội dung “H m nay ngày 07-6-2020. Tôi N có hẹn chú T đến ngày 25 dương lịch tháng 6 t i có trả chú T. Cam ết trả tạm 500.000.000 nếu còn tiếp theo thanh toán tiếp, sai t i chịu trách nhiệm”. Thực tế từ ngày 07-6-2020, ông N h ng trả cho nguyên đơn hoản tiền nào. Nguyên đơn đề nghị Toà án buộc ng Trần Sỹ N và bà Trần Thị O (là vợ ng O) trả số tiền nợ là 4.944.000.000 đồng, trừ đi số tiền 900.000.000 đồng đ nhận. Tiếp tục còn phải trả là 4.044.000.000 (Bốn tỷ h ng trăm bốn mươi bốn triệu) đồng. Nguyên đơn h ng yêu cầu vợ chồng ng N, bà O trả tiền l i phát sinh từ ngày 30-3-2019 đến hi x t xử sơ th m.
Nguyên đơn hai số tiền vợ chồng ng N, bà O nợ ng T là nợ nhiều nguồn hác nhau, h ng phải ch từ việc mua bán gỗ lim Lào. Việc mua bán gỗ lim Lào gi a ng N và ông T diễn ra nhiều lần, lúc mua ít, lúc mua nhiều. Vì bản thân nhà ông N có thành lập C ng ty chuyên x y dựng nhà gỗ nên cần một hối lượng gỗ lim rất lớn, có lần ng N thanh toán ngay, có lần ng N nợ lại. Ngoài ra ông T còn cho ông N vay tiền để đảo nợ ng n hàng và để làm ăn, phát triển inh doanh. Việc mua bán và cho vay tiền ng T xác nhận là quan hệ cá nh n gi a ng T với ng N và bà O mà h ng liên quan gì tới Công ty TNHH N1 của ông N. Vì đ y là dựa trên mối quan hệ quen biết, sự tin tưởng và uy tín cá nh n để thực hiện việc giao ết các hoạt động mua bán và cho vay gi a ng T và vợ chồng ng N. Về nguồn gốc số gỗ lim Lào thì ng T là người mua gỗ về bán lại cho ông N để iếm lời. Ông T h ng biết việc Công ty TNHH M m số m thuế 3200507466 địa ch : hu S, phường Đ, thành phố Đ, t nh Quảng Trị xuất hoá đơn giá trị gia tăng bán 71,675m3 hối gỗ lim Lào với giá 15.500.000 đồng/m3 tổng giá trị sau thuế là 1.222.058.750 đồng cho ng Trần Sỹ N.
* Tại bản khai, lời khai tại toà án, bị đơn ông Trần Sỹ N trình bày:
Ông T mua gỗ của Công ty TNHH M m số m thuế 3200507466 địa ch : hu S, phường Đ, thành phố Đ, t nh Quảng Trị và bán lại cho Công ty N1 do ông N là giám đốc. Ngày 19-4-2012, Công ty TNHH MTV M xuất hoá đơn giá trị gia tăng mẫu số 01GTKT3/001 ý hiệu QK/12P số 0000007 bán 71,675m3 hối gỗ lim lào với giá 15.500.000 đồng/m3, tổng giá trị sau thuế là 1.222.058.750 đồng cho Công ty TNHH N1 là do ông T h ng thành lập c ng ty và như vậy mới tránh được việc nộp thuế nhiều lần. Công ty TNHH N1 không trực tiếp mua gỗ của Công ty TNHH MTV M. Quá trình thanh toán gi a ng N và ông T như sau: Ngày 19-4-2012 ông N đ trả cho anh Vũ Tiến D1 500.000.000 đồng do ng T nhờ anh D1 nhận tiền. Đến ngày 20-4-20212 tiếp tục trả cho anh D1 và anh T 200.000.000 đồng. Hai bên xác nhận số nợ còn laị là 521.587.500 đồng nhưng h ng có giấy biên nhận. Sau đó ng T có nói sau một tháng thì trả nốt số nợ trên, nếu h ng trả được thì ng N chịu theo l i suất bằng ng n hàng, hai bên thoả thuận với mức l i suất bằng ng n hàng là 1%/tháng. Tuy nhiên ông T h ng thực hiện tính theo l i suất bằng ng n hàng mà tính l i suất cho vay 3.000 đồng/một triệu/một ngày. Hàng tháng ng T cộng l i mẹ đẻ l i con.
Ông N hai về việc viết giấy nhận nợ: Ngày 22-3-2013, ông N có viết cho ông T với nội dung “nợ lại tiền gỗ tổng 2.994.550.000đ (hai tỷ chín trăm chín tư triệu năm trăm năm mươi ngàn”. Đến ngày 30-3-2019, ông N đ viết giấy cho ông T với nội dung “tổng nợ tiền gốc, l i 4.944.000.000đ (Bốn tỷ chín trăm bốn mươi bốn triệu đồng), hẹn trong tháng 3 m lịch sẽ trả một nửa số nợ trên”. Tuy nhiên việc viết giấy nợ trong tình trạng bị đe dọa, p buộc. Theo ng N, tính từ ngày 19-4-2012 đến ngày 28-7-2020 ông N đ trả cả gốc và l i là 5.670.000.000đ (Năm tỷ sáu trăm bảy mươi triệu đồng) cho ng T. Nay ông N h ng đồng ý trả cho ng T số tiền 4.044.000.000đ (Bốn tỷ h ng trăm bốn mươi bốn triệu đồng) như hởi iện của nguyên đơn.
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Bà O xác nhận ngày 19-4-2012, ông N có mua của ng T 71,675m3 hối gỗ lim Lào với giá 15.500.000đ/m3. Tổng giá trị là 1.222.158.750 đồng như ng N đ hai. Việc mua bán trao đổi về số lượng, giá cả thế nào bà h ng nắm được, chủ yếu ng T và ông N giao dịch với nhau. Việc mua bán gỗ lim Lào với ng T thì bà có được ng N bàn bạc và thống nhất mua của ng T. Vì vợ chồng bà O có thành lập C ng ty chuyên đi x y dựng các c ng trình nhà gỗ nên cũng cần một hối lượng gỗ lim rất lớn. Tuy nhiên, quá trình thanh toán nợ gi a ng N và ông T cụ thể từng đợt thế nào thì bà O h ng biết vì chủ yếu ông N thanh toán trực tiếp cho ng T. Ngày 05-5-2016 bà O có trả cho vợ ng T (tên là D) 70.000.000 đồng dưới sự chứng iến của bà Trần Thị S (là mẹ đẻ chị D và mẹ vợ của anh T). Quá trình trả nợ được diễn ra trong nhiều năm, sau hi vợ chồng bà O thống nhất lại thì tới nay vợ chồng bà đ trả ng T tổng số tiền là 5.670.000.0000 đồng là cả gốc và l i. Đến nay, vợ chồng bà còn nợ ng T số tiền gốc là 521.587.500 đồng, hai bên có thoả thuận là trả l i theo mức l i suất ng n hàng tại thời điểm đó là 1%/tháng. Tính từ 19-4-2012 đến 28-7-2020 là 517.000.000 đồng tiền l i. Như vậy nếu tính theo mức l i suất ng n hàng thì cả gốc và l i vợ chồng bà còn phải trả là 1.038.587.5000 đồng. Bà O có cùng quan điểm với ng N, h ng đồng ý trả số nợ 4.044.000.000 (Bốn tỷ h ng trăm bốn mươi bốn triệu) cho ng Trần Xu n T.
Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, anh Vũ Tiến D1 trình bày: Anh D2 xác nhận anh có nhận tiền từ ng N để đưa trả ng T một lần 500.000.000 đồng và một lần 200.000.000 đồng như ng N khai. Anh D2 kh ng biết việc mua bán, thanh toán tiền gi a ng T và ông N nhưng anh biết tiền gỗ ng T bán cho ông N có giá trị nhiều hơn số tiền 1.222.058.750 đồng như ng N hai, vì số gỗ này anh D2 là người trực tiếp đi sang Lào đưa về cho ng T bán cho ông N.
Từ nội dung trên. Tại bản án sơ th m số 01/2024/DS-ST ngày 04-3-2024 của Toà án nh n d n huyện Mỹ Lộc, t nh Nam Định đ quyết định:
Căn cứ Điều 305, Điều 476 của Bộ luật D n sự năm 2005; Điều 357, Điều 468 của Bộ luật d n sự năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng d n sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của nguyên đơn.
2. Buộc vợ chồng ng Trần Sỹ N bà Trần Thị O liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số tiền 990.787.000 đồng (chín trăm chín mươi triệu b y trăm tám mươi b y ngàn) cho bà Trần Thị D và chị Trần Thị Hải Y và anh Trần Xu n T2.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ể từ ngày bà Trần Thị D, chị Trần Thị Hải Y, anh Trần Xu n T2 có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng vợ chồng ng Trần Sỹ N bà Trần Thị O còn phải trả một hoản tiền l i của số tiền chưa thi hành án theo mức l i suất quy định tại hoản 2 Điều 468 của Bộ luật d n sự 2015.
3. Về án phí: Buộc bà Trần Thị D, chị Trần Thị Hải Y, anh Trần Xu n T2 liên đới nộp án phí 93.064.000 đồng, được trừ đi số tiền đ nộp tạm ứng án phí 56.470.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001619 ngày 08-7-2021 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện Mỹ Lộc. Số tiến án phí còn phải nộp là 36.594.000 đồng (Ba mươi sáu triệu năm trăm chín mươi bốn ngàn).
Buộc ng Trần Sỹ N bà Trần Thị O liên đới nộp án phí 41.723.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu b y trăm hai mươi ba ngàn).
Ngoài ra, bản án sơ th m còn tuyên về quyền háng cáo của các đương sự.
Ngày 15-3-2024, bà Trần Thị D háng cáo đề nghị cấp phúc th m chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của ng Trần Xu n T đối với bản án sơ th m số 01/2024/DS-ST ngày 04-3-2024 của Toà án nh n d n huyện Mỹ Lộc, t nh Nam Định.
Ngày 19-3-2024, ông Trần Sỹ N háng cáo đề nghị cấp phúc th m giám định lại tài liệu ghi m và đánh giá lại các tài liệu chứng cứ nhằm xác định sự thật vụ án cũng như xem x t lại số tiền gốc, l i; đưa công ty TNHH N1 vào tham gia tố tụng để yêu cầu c ng ty có trách nhiệm thanh toán.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Trần Thị D, người đại diện theo ủy quyền của bà D thống nhất trình bày: Nguyên đơn gi nguyên yêu cầu hởi iện và yêu cầu háng cáo và đề nghị HĐXX chấp nhận háng cáo, sửa bản án d n sự sơ th m số 01/2024/DS-ST ngày 04-3-2024 của Toà án nh n d n huyện Mỹ Lộc, t nh Nam Định theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của ng Trần Xu n T.
Đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh Nam Định phát biểu ý iến: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc th m, Th m phán và Hội đồng x t xử đ tu n theo các quy định Bộ luật tố tụng d n sự. Quyền lợi của các đương sự được bảo đảm.
Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu thu thập lưu hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Đề nghị HĐXX căn cứ hoản 2 Điều 308 BLTTDS. Sửa bản án d n sự sơ th m theo hướng tính số tiền gốc là 2.994.550.000đ cộng với số tiền l i phát sinh là 1.690.154.000 đồng bằng 4.684.704.000 đồng. Kể từ ngày chốt nợ (30-3-2019) hai bên thoả thuận h ng tính l i n a. Từ thời điểm chốt nợ đến hi x t xử, căn cứ vào các chứng từ giao dịch, cấp sơ th m xác định ng N chuyển hoản trả nợ cho ng T được 900.000.000 đồng. Do vậy, số tiền ng N còn tiếp tục trả ng T cụ thể là: 4.684.704.000 đồng - 900.000.000 đồng = 3.784.704.000 đồng.
Mặt hác, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ th m, ng N đ từng đề nghị trả cho ng T số tiền 3.000.000.000 đồng là tiền gốc và l i. Tuy nhiên cấp sơ th m ch buộc ng N trả ng T 990.787.000 đồng là ảnh hưởng đến quyền lơị của nguyên đơn.
Ngoài ra, đề nghị HĐXX tuyên án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau hi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem x t tại phiên toà căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng x t xử x t kháng cáo của đương sự:
. Về tố tụng:
. Đơn háng cáo của bà Trần Thị D, người ế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn làm trong thời hạn luật định nên được xem x t theo trình tự phúc th m.
. Đơn háng cáo của ng Trần Sỹ N làm ngày 19-3-2024. Sau khi háng cáo, Tòa án nh n d n huyện Mỹ Lộc yêu cầu ng N nộp tạm ứng án phí nhưng ng N h ng thực hiện nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật. Căn cứ hoản 4 Điều 274; hoản 2 Điều 276 BLTTDS, ngày 02-5-2024 Tòa án nh n d n huyện Mỹ Lộc ra th ng báo trả lại đơn háng cáo là đúng quy định pháp luật. Do vậy háng cáo của ng Trần Sỹ N sẽ h ng được HĐXX phúc th m xem x t giải quyết theo trình tự phúc th m.
Về th m quyền giải quyết vụ án và người tham gia tố tụng:
Ông Trần Xuân T hởi iện yêu cầu ng Trần Sỹ N thanh toán hoản tiền nợ do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Ông Trần Sỹ N có địa ch cư trú tại x M, huyện M, t nh Nam Định. Do vậy, Toà án nh n d n huyện Mỹ Lộc, t nh Nam Định thụ lý và giải quyết theo trình tự sơ th m là đúng th m quyền theo quy định tại hoản 3 Điều 26; điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng d n sự.
Ông Trần Xu n T - người hởi iện nên xác định là nguyên đơn; ng Trần Sỹ N - người bị iện nên được xác định là bị đơn trong vụ án. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ th m, ng Trần Xu n T đ chết ngày 19-9-2022. Theo quy định hoản 1, Điều 74 Bộ Luật Tố tụng d n sự 2015 “Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng”. Tuy nhiên, bố mẹ đẻ ông T là cụ Trần Xu n C và cụ Trần Thị T3 đều chết trước ng T. Do vậy, nh ng người thuộc hàng ế thừa thứ nhất của ng T được tham gia tố tụng gồm: Vợ ng T là bà Trần Thị D và con ông T là chị Trần Thị Hải Y và anh Trần Xuân T2.
Ông Trần Sỹ N, bà Trần Thị O được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt h ng có lý do. HĐXX căn cứ hoản 3 Điều 296 BLTTDS x t xử vắng mặt ng Trần Sỹ N và bà Trần Thị O.
X t yêu cầu háng cáo của bà Trần Thị D là người ế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn đề nghị cấp phúc th m chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của ng Trần Xu n T, HĐXX x t thấy. Căn cứ lời hai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì căn cứ xác định nợ gi a ng T với ng N được thể hiện bằng các giấy nhận nợ do ng N trực tiếp viết nhận nợ với ng T. Cụ thể:
Căn cứ giấy nhận nợ ngày 22-3-2013, nội dung có ghi “ 22-3-2013 nợ lại tiền gỗ tổng 2.994.550 (hai tỷ chín trăm chín tư triệu năm trăm năm mươi ngàn”. Ông T trình bày trong các năm 2012 và năm 2013 ng T có bán gỗ cho ông Trần Sỹ N, có lúc ông N thanh toán luôn, có lúc ông N nợ lại tiền. Bên cạnh đó ngoài việc mua bán gỗ thì ng T còn cho ông N mượn tiền mặt để ng N sử dụng vốn để mua gỗ và đáo hạn ng n hàng. Ông N trả nợ làm nhiều lần, có bao nhiêu thì trả bớt bấy nhiêu. Do nhiều lần trả nợ và vay nợ liên tiếp, ng T không nhớ cụ thể nên đến ngày 22-3-2013 gi a ng T và ông N có chốt nợ với nhau, số nợ gốc được hai bên xác nhận là 2.994.550.000đ (hai tỷ chín trăm chín mươi tư triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Căn cứ lời hai của ng T tại (BL 23) thì nguyên đơn xác nhận tính l i với mức l i suất 2,2%/tháng và các lần vay và trả đều thanh toán bằng tiền mặt. Như vậy tính từ 22-3-2013 đến 30-3-2019 là 06 năm 07 ngày, được làm tròn là 06 năm. Tổng số l i phát sinh từ tiền gốc cụ thể là: 2.994.550.000đ X 2,2%/tháng x 72 tháng = 4.743.367.200 đồng.
Giấy nhận nợ ngày 30-3-2019, có nội dung “nam định, ngày 30-3-2019 Tổng nợ tiền gốc, l i 4.944.000.000 (Bốn tỷ, chín trăm bốn mươi bốn triệu) đồng, hẹn trong tháng 3 m lịch sẽ trả một nửa số nợ trên”. Tuy nhiên, ông T xác nhận, từ ngày 23-3-2013 chốt nợ số tiền gốc là 2.994.550.000đ đến nay, gi a ng T và ông N vẫn diễn ra hoạt động mua bán gỗ với nhau. Quá trình mua bán, có lần ng N trả tiền lu n, có lần ng N nợ lại và có lúc vay thêm tiền mặt để inh doanh hoặc đảo nợ ng n hàng. Số tiền cụ thể của mỗi lần thì ng T h ng nhớ. Trước hi chốt hoản nợ 4.944.000.000 đồng, ng T đ đưa toàn bộ giấy tờ gốc và tiền l i phát sinh của nh ng tiền vay ngoài, vay đáo hạn ng n hàng, ông T đ giải trình rõ từng phần để ng N hiểu về số tiền đ cho ng N vay và số tiền nợ cũ. Sau hi đối chiếu, thống nhất số nợ tại nhà ng N thì ông N chủ động tự tay viết giấy nợ và hẹn ngày trả như trong giấy nhận nợ thể hiện ngày 30-3-2019 và hai bên thoả thuận là h ng tính l i n a. Cũng ể từ ngày 30-3-2019 đến tháng 6-2020 ông N mới thanh toán được tổng số tiền là 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng). Ngày 07-6-2020, ông N viết giấy hẹn với nội dung “H m nay ngày 07-6-2020. Tôi N có hẹn chú T đến ngày 25 dương lịch tháng 6 t i có trả chú T. Cam ết trả tạm 500.000.000 nếu còn tiếp theo thanh toán tiếp, sai t i chịu trách nhiệm”. Trên thực tế thì từ ngày 07-6-2020 đến nay, ông N h ng trả cho ng T được hoản tiền nào. Tại phiên toà, phía nguyên đơn cũng thừa nhận số tiền ghi trong giấy nhận nợ ngày 30-3-2019 là có cả số nợ gốc và tiền l i của số tiền được ghi trong giấy nhận nợ ngày 23-3-2013 (giấy nhận nợ cũng ghi rõ là Tổng nợ tiền gốc, l i 4.944.000.000 đồng).
Căn cứ hoá đơn giá trị gia tăng mẫu 01GTKT3/001 ý hiệu QK/12P số 0000007 ngày 19-4-2012 của công ty TNHH MTV M do ông N xuất trình, x t thấy hoá đơn giá trị gia tăng này ghi tên đơn vị bán hàng là Công ty TNHH MTV M, tên người mua hàng là ng Trần Sỹ N. Điều đó thể hiện rõ việc mua bán gỗ theo hoá đơn này h ng liên quan đến ng T như ng T hai. Vì vậy h ng đủ cơ sở để lấy số tiền bán hàng ghi trong hoá đơn giá trị gia tăng đó làm cơ sở phát sinh việc nợ nần gi a ng N và ông T cũng như ng N và bà O xác định nợ gốc là số tiền 521.587.500 đồng là h ng có căn cứ nên h ng được chấp nhận.
Ông N thừa nhận ng tự tay viết giấy nhận nợ vào các ngày 22-3-2013 và ngày 30-3-2019 như ng T đ hai. Nhưng ng N hai là ng viết giấy nhận nợ trong tình thế bị ng T bị de dọa, p buộc. X t thấy, ng N là người có đủ năng lực hành vi d n sự, ng N h ng có chứng cứ nào chứng minh là bị ng T p buộc, đe doạ nên ng phải chịu trách nhiệm về các giấy nhận nợ ng N viết cho ông T được thể hiện tại các giấy nhận nợ ghi ngày 22-3-013 và ngày 30-3-2019. Hội đồng x t xử sơ th m xác định số tiền 2.994.550.000đ (Hai tỷ chín trăm chín mươi tư triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) được ghi trong giấy nhận nợ ngày 23-3-2013 mà ông N viết cho ng T là tiền mua gỗ và nợ gốc mà ông N nợ ng T để làm cơ sở giải quyết vụ án là đúng với thực tế và có căn cứ.
Giấy nhận nợ ngày 22-3-2013 h ng thể hiện việc tính l i và thời hạn thanh toán. Tuy nhiên, ông T khai tính lãi 2,2%/tháng. Ông N khai là hai bên thoả thuận tính l i 1%/tháng (nhưng thực tế ng N trả l i cho ng T mức l i suất 3.000đ/01triệu/ngày). Tuy nhiên ng N h ng đưa ra được căn cứ chứng minh đối với việc đ trả lãi cho ông T là 3.000đ/01triệu/ngày. Đối với lời hai của ng T về việc được ng N trả l i 2,2%/tháng sẽ được HĐXX chấp nhận, vì lời hai này của ng T HĐXX h ng phải chứng minh.
Từ việc xác định số nợ gốc như trên, Tòa án cấp sơ th m đ tính tiền l i của số tiền nợ gốc 2.994.550.000 đồng do mua gỗ. Thời điểm tính l i từ ngày 22-3-2013 đến ngày 30-3-2019 được xác định như sau:
Tại thời điểm ng T và ông N ghi giấy nhận nợ ngày 22-3-2013 thì Bộ luật D n sự năm 2005 đang có hiệu lực. Căn cứ hoản 2 Điều 305 Bộ luật D n sự năm 2005 quy định về Trách nhiệm d n sự do chậm thực hiện nghĩa vụ d n sự thì phải trả l i đối với số tiền chậm trả theo l i suất cơ bản do Ngân hàng N2 c ng bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Căn cứ hoản 2 Điều 476 Bộ luật D n sự năm 2005 quy định về l i suất thì trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả l i, nhưng h ng xác định rõ l i suất hoặc có tranh chấp về l i suất thì áp dụng l i suất cơ bản do Ngân hàng N2 c ng bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ. Do có tranh chấp về l i gi a ông N và ông T, vì vậy theo quy định của Bộ luật d n sự 2005, l i suất ng N phải trả cho ng T được xác định là l i suất cơ bản do Ngân hàng N2 c ng bố. Theo quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Ngân hàng N2 thì mức l i cơ bản tại thời điểm ngày 23-3-2013 được tính là 9%/năm, tương đương 0,75%/tháng. Như vậy tính từ ngày 22-3-2013 đến ngày 31-12-2016 (ngày bộ luật d n sự 2005 hết hiệu lực pháp luật) là 45 tháng 08 ngày. Tổng số tiền l i phát sinh từ số tiền gốc là 2.994.550.000đ x 0,75%/tháng x 45 tháng 08 ngày = 1.016.650.000 đồng (làm tròn số).
Kể từ ngày 31-12-2016 Bộ luật d n sự 2005 hết hiệu lực pháp luật. Nên ể từ ngày 01-01-2017 Bộ luật D n sự năm 2015 bắt đầu có hiệu lực. HĐXX sơ th m căn cứ hoản 2 Điều 357 Bộ luật D n sự năm 2015 quy định Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì l i suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng h ng được vượt quá mức l i suất được quy định tại hoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu h ng có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại hoản 2 Điều 468 của Bộ luật này. Cũng tại hoản 2 Điều 468 Bộ luật D n sự năm 2015 quy định về trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả l i, nhưng h ng xác định rõ l i suất và có tranh chấp về l i suất thì l i suất được xác định bằng 50% mức l i suất giới hạn quy định tại hoản 1 điều này tại thời điểm trả nợ thì l i suất tính theo hoản 1 Điều 468 Bộ luật D n sự năm 2015 quy định h ng được vượt quá 20%/năm. Như vậy từ ngày 01-01-2017 đến ngày 30-3-2019 là 27 tháng, l i suất ng N phải trả cho ng T là 10%/năm tương đương 0,833%/tháng. Tiền l i ng N phải trả cho nguyên đơn là 2.994.550.000đ x 0,833%/tháng x 27 tháng = 673.504.000 đồng (làm tròn số).
Từ ph n tích trên. HĐXX sơ th m xác định tổng số tiền l i phát sinh từ số nợ gốc của 2.994.550.000 đồng được tính từ ngày 22-3-2013 đến ngày 30-3-2019 mà ông N phải chịu trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn. Cụ thể là 1.016.650.000đ + 673.504.000đ = 1.690.154.000 đồng là có căn cứ và đúng với quy định của pháp luật.
- Do hoản tiền l i trước đó của ng T đ tính ở phần [3.1] nhiều hơn so với số tiền l i theo quy định của pháp luật mà thực tế ng N phải thanh toán cho ông T như đ được xem x t, tính toán ở phần [3.5.1] và [3.5.2]. Do vậy, số tiền lãi mà ông N đ thanh toán thừa cho ng T được xác định là 4.743.367.200đ - 1.690.154.000đ = 3.053.213.000 đồng (làm tròn số).
- Căn cứ giấy nhận nợ ngày 30-3-2019 thì tổng số tiền ng N còn nợ ng T cả gốc và l i là 4.944.000.000 đồng. Trong hi đó số tiền l i trước đó ng N đ thanh toán thừa cho ng T là 3.053.213.000 đồng. Do vậy, cần đối trừ gi a số tiền đ vay với số tiền đ trả thừa của số tiền l i đ trả thì ng N còn nợ ng T số tiền là 1.890.787.000 đồng. Cụ thể (4.944.000.000 đồng - 3.053.213.000 đồng =1.890.787.000 đồng).
Tuy nhiên, kể từ ngày 30-3-2019 là thời điểm ng N và ông T chốt nợ cuối c ng. Ông N hai đ nhiều lần trả tiền măt và chuyển hoản trả cho ng T với tổng số tiền đ trả là 1.350.000.000 đồng nhưng ng T h ng thừa nhận. Ông T ch thừa nhận ng N đ trả số tiền 900.000.000 đồng. Do có lời hai m u thuẫn, Hội đồng x t xử cấp sơ th m đ chấp nhận việc ng N đ thanh toán cho ông T các hoản tiền mà ng N giao nộp chứng cứ gồm giấy uỷ nhiệm chi và các chứng từ giao dịch chuyển hoản từ ng Trần Sỹ N đến các số tài hoản của ông Trần Xu n T. Cụ thể:
* Ông N đ thanh toán cho nguyên đơn bằng hình thức chuyển tiền đến số tài hoản 3203205098921 ngân hàng A:
- Ngày 30-7-2019 chuyển tiền qua uỷ nhiệm chi số tiền 200.000.000đ. Chuyển tiền đến số tài hoản xxxxxxxxxxxx ngân hàng V:
- Ngày 19-02-2020 chuyển 02 lần có số SBT 381 và SBT 383 số tiền mỗi lần 50.000.000 đồng.
- Ngày 19-02-2020 chuyển tiền 02 lần. Lần 1 có số SBT 492 với số tiền đ chuyển là 40.000.000 đồng; Lần 2 có số SBT 490 với số tiền đ chuyển là 50.000.000 đồng.
- Ngày 23-3-2020 chuyển 04 lần có số SBT 1384, SBT 123, SBT 126. Với số tiền đ chuyển của mỗi lần là 50.00.000 đồng và số SBT 1386 với số tiền đ chuyển là 10.000.000 đồng.
- Ngày 23-3-2020 số SBT 135 với số tiền đ chuyển là 50.000.000 đồng. Chuyển tiền đến số tài hoản 7750138828888 ngân hàng M1:
- Ngày 23-3-2020 chuyển 02 lần có số SBT 133 và SBT 134 với số tiền đ chuyển của mỗi lần là 50.000.000 đồng.
- Ngày 25-6-2020 chuyển 02 lần có số SBT 519 và SBT 522. Với số tiền đ chuyển của mỗi lần là 100.000.000 đồng.
Tổng số tiền đã chuyển là 900.000 đồng (chín trăm triệu đồng).
*Như ph n tích ở mục [3.5.3], xác định hoản tiền ng N còn nợ ng T là 1.890.787.000 đồng. Kể từ ngày 30-7-2019 đến ngày 25-6-2020 ông N đ trả cho ông T số tiền 900.000.000 đồng. Đối trừ gi a số tiền đ vay với số tiền đ trả thì đến nay ng N còn nợ ng T. Cụ thể: 1.890.787.000 đồng – 900.000.000 đồng = 990.787.000 đồng.
* Từ phân tích nêu trên, Tòa án cấp sơ th m chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định ông N còn nợ ng T số tiền 990.787.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, HĐXX phúc th m x t thấy h ng có căn cứ chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà Trần Thị D. Nên cần gi nguyên Bản án d n sự sơ th m số 01/2024/DS-ST ngày 04-3-2024 của Toà án nh n d n huyện Mỹ Lộc, t nh Nam Định.
Về án phí phúc th m: Do háng cáo của bà Trần Thị D h ng được chấp nhận, căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nên bà Trần Thị D phải nộp tiền án phí d n sự phúc th m.
Các quyết định hác của bản án sơ th m h ng có háng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị cấp phúc th m h ng xem x t giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào hoản 1 Điều 308 BLTTDS: Kh ng chấp nhận háng cáo háng cáo của bà Trần Thị D là người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trân Xuân T1. Gi nguyên Bản án d n sự sơ th m số 01/2024/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Toà án nh n d n huyện Mỹ Lộc, t nh Nam Định.
2. Án phí d n sự phúc th m: Bà Trần Thị D phải nộp 300.000 đồng tiền án phí d n sự phúc th m. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí phúc th m mà bà Trần Thị D đ nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền số 0000534 ngày 22-3-2024 của Chi cục thi hành án D n sự huyện Mỹ Lộc, t nh Nam Định. Bà Trần Thị D đ nộp đủ án phí d n sự phúc th m.
3. Các quyết định hác của bản án sơ th m h ng có háng cáo, kháng nghị, đ có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị. Bản án phúc th m có hiệu lực thi hành ể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án d n sự.
Bản án phúc th m có hiệu lực thi hành ể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND t nh Nam Định; - TAND thành phố Nam Định; - Chi cục THADS thành phố Nam Định; - Hồ sơ vụ án; - Lưu VT. | TM. HỘI Đ NG X T X PH C TH M TH M PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Cảnh (Đã ký) |