vanban.org

Bản án 165/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn U phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn U 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án (19/9/2023). Giao bị cáo Phạm Văn U cho Ủy ban nh n d n xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn U - Bị truy tố tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn U phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2023/HS-ST
Ngày: 19/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Nhật Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Thùy Dương;

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Kiều Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hường và bà Diệp Ngọc Dinh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở T a án nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 163/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Văn U, sinh năm 1974, tại tỉnh B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 5/12; d n tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Lê Thị S; có vợ là Trần Thị V và 02 con (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

Bị hại: Nguyễn Văn V (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Ông Nguyễn Thanh M, sinh năm 1980; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

+ Bà Lê Thị M, sinh năm 1976; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Phạm Văn U có Giấy phép lái xe hạng B2 số 670171006914 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đ cấp ngày 18/7/2017, có giá trị đến ngày 18/7/2027. Nguyễn Anh V có Giấy phép lái xe hạng A1, số 190211010786 do Sở Giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 26/01/2021, có giá trị đến không thời hạn.

Khoảng 21 giờ ngày 06/12/2022, Phạm Văn U điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Rush, màu bạc, biển số 48A-080.67 lưu thông trên đường Nguyễn Văn T đoạn qua khu phố 7, phường Đ, thành phố T hướng từ giao lộ đường Nguyễn Văn T và M về hướng giao lộ đường Nguyễn Văn T và đường ĐX 064, U bật đèn xi nhan để chuyển hướng vào lề đường phía bên phải nhưng do thiếu chú ý quan sát nên U đã để phần phía trước bên phải đầu xe ô tô biển số 48A-080.67 va chạm vào phần phía trước bên trái xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mxking, màu xanh - đen, dung tích 149cm3, biển số 66G1-570.23 do Nguyễn Văn V điều khiển lưu thông cùng chiều phía sau đến ở làn đường dành cho xe mô tô g y ra hậu quả làm cho V chết tại hiện trường, xe ô tô biển số 48A-080.67 và xe mô tô biển số 66G1-570.23 bị hư hỏng.

* Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông được lập vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 06 2 2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định như sau:

- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, không bị che khuất tầm nhìn. Phần đường xe chạy theo hướng từ giao lộ Nguyễn Văn T - M đi giao lộ Nguyễn Văn T – ĐX 064 được ph n chia thành 3 làn đường xe chạy bằng các vạch sơn. Mỗi làn đường có chiều rộng lần lượt là 3,5 mét, 3,6 mét, 2,4 mét (tính từ dải ph n cách vào lề).

- Hiện trường được đo vẽ lấy điểm mốc là mép lề phải đường Nguyễn Văn T (theo hướng từ giao lộ Nguyễn Văn T - M đi giao lộ Nguyễn Văn T – ĐX 064) làm lề chuẩn. Lấy trụ điện số 38 nằm trên hành lang bộ bên phải đường Nguyễn Văn T (theo hướng từ giao lộ Nguyễn Văn T - M đi giao lộ Nguyễn Văn T – ĐX 064) làm điểm mốc cố định.

- Dấu vết tại hiện trường:

+ Tử thi Nguyễn Văn V nằm ngửa sát tường hàng rào c y xăng T. Đầu tử thi quay về hướng giao lộ Nguyễn Văn T - M, ch n tử thi quay về hướng giao lộ Nguyễn Văn T – ĐX 064. Đầu tử thi cách mép lề chuẩn là 04 mét và cách t m trục bánh sau xe mô tô biển số 66G1-570.23 (1) là 1,6 mét. Ch n tử thi cách lề chuẩn là 3,8 mét.

+ Máu nằm dưới đầu tử thi và chảy trên nền, có kích thước 1,8x0,6 mét. T m cách mép lề chuẩn là 3,2 mét.

+ Máu trên tường ngay tại vị trí tử thi lên, có kích thước 1,8x0,6 mét. T m cách nền 0,9 mét.

+ Xe mô tô (1) nằm ngã sang bên phải của xe. Đầu xe quay về hướng đường Nguyễn Văn T và chéo về hướng giao lộ Nguyễn Văn T - ĐX064. T m trục bánh trước của xe cách mép lề chuẩn là 2,2 mét. T m trục bánh sau của xe cách mép lề chuẩn là 03 mét và cách đầu tử thi là 1,6 mét.

+ Vết cày (2) xe mô tô (1) có chiều dài 12,1 mét. Điểm đầu vết cày cách mép lề chuẩn là 0,7 mét, điểm cuối vết cày trùng với vị trí xe mô tô (vết vày số 5 trên sơ đồ hiện trường).

+ Xe ô tô biển số 48A-080.67 (3) dừng trên làn đường trong cùng (sát mép lề). Đầu xe quay về hướng giao lộ Nguyễn Văn T – ĐX 064 và chếch qua bên phải vào mép lề. T m trục bánh trước bên phải của xe trùng với mép lề chuẩn và cách điểm mốc là 30,5 mét. T m trục bánh sau bên phải của xe cách mép lề chuẩn là 0,7 mét và cách t m trục bánh sau xe mô tô (1) là 10,9 mét.

* Căn cứ Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông được lập vào lúc 4 giờ 30 phút ngày 09 2 2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định:

Dấu vết trên xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA RUSH, biển số 48A-080.67 như sau: Cản trước bị bong ra; phía trước bên phải cản trước bị trầy xước có chiều từ sau về trước, trên có chất màu đen bám dính, cao 70cm; đèn chiếu sáng trước bên phải bị bong khớp nối; bánh trước bên phải bị vênh sang trái; ốp bên phải phần đầu xe (ngay vị trí bánh trước bên phải) bị móp và có dấu trượt từ sau về trước.

* Căn cứ Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông được lập vào lúc 5 giờ 5 phút ngày 09 2 2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định:

Dấu vết trên xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mxking, màu xanh – đen, biển số 66G1-570.23 như sau: Phần đầu xe bị vỡ hoàn toàn; chảng 3 bị gãy; phuộc trước bên trái bị gãy; mặt bên trái lốp bánh trước có dấu trượt xước cao su; yếm chắn gió 2 bên bị vỡ hoàn toàn; gác ch n trước bên trái bị cong vênh về sau; ốp nhựa th n xe bên phải bị trầy xước, mài m n theo hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới do ngã; cần số cong gập về sau; mép trái m m trước bị trầy xước cong vào trong; mép ngoài ch n thắng bị trầy xước; ốp ngoài ống xả khí bị trầy xước, mài m n do ngã.

* Căn cứ Bản kết luận giám định số 14/KL-KTHS(CH) ngày 30/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận về dấu vết va chạm giữa hai phương tiện như sau:

1. Dấu vết va chạm giữa hai phương tiện là: Các dấu vết trượt xước sơn màu đen xanh, vỡ khuyết ốp nhựa bên trái đầu xe, mặt nạ trước, bửng chắn gió bên trái, cạnh trái chắn bùn bánh trước, gãy phuộc trước bên trái xe mô tô biển số 66G1-570.23, có chiều từ trước về sau, từ trái qua phải phù hợp với các dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen xanh (dạng sơn), bung khớp bên phải đầu cản trước, bung cụm đèn trước bên phải xe ô tô biển số 48A-080.67, có chiều từ sau về trước, từ phải qua trái.

2. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa hai phương tiện là: Phần phía trước bên trái xe mô tô va chạm vào phần phía trước bên phải đầu xe ô tô theo hướng từ sau về trước (như mục 1) làm xe mô tô đổ ngã bên phải, tạo ra dấu vết trên phương tiện.

3. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường là: Khu vực phía trước đầu vết cày số 5 trên Sơ đồ hiện trường.

* Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y số 269 GĐPY ngày 3 2 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn V là do đa chấn thương.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo U đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên t a giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Về các vấn đề khác của vụ án:

+ Phạm Văn U đã tự nguyện bồi thường chi phí mai táng và tiền tổn thất tinh thần cho người đại diện hợp pháp của bị hại (ông Nguyễn Thanh M và bà Lê Thị M) số tiền 258.000.000 đồng. Gia đình bị hại đồng ý, có đơn xin bãi nại và từ chối định giá thiệt hại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mxking, màu xanh – đen, biển số 66G1-570.23.

+ Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mxking, màu xanh – đen, biển số 66G1-570.23, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên do anh Nguyễn Văn V đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký và là chủ sở hữu. Ngày 27/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 06 ngày 27/12/2022 để giao trả lại cho đại diện gia đình của V là ông Nguyễn Thanh M (là cha ruột của Nguyễn Văn V).

+ Đối với xe ô tô biển số 48A-080.67, quá trình điều tra xác định: Xe ô tô trên do Phạm Văn U đứng tên giấy chứng nhận đăng ký và là chủ sở hữu. Ngày 27/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thủ Dầu Một đã Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 05 ngày 27/12/2022 để giao trả lại cho Phạm Văn U.

+ Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2 số 670171006914, do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/7/2017, có giá trị đến ngày 18/7/2027 của Phạm Văn U. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra quyết định xử lý vật chứng theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì về các vấn đề trên.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Cáo trạng số 146/CT-VKSTDM ngày 04/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Văn U về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại cáo trạng nêu trên do có sai sót đánh máy nên đại diện Viện kiểm sát đính chính lại nội dung Phạm Văn U đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm d n sự: Đã giải quyết xong nên không đề nghị xử lý.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Phạm Văn U 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2 số 670171006914 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Nông cấp ngày 18/7/2017 cho Phạm Văn U.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo Phạm Văn U đã khai nhận:

Khoảng 21 giờ ngày 06/12/2022, trên đường N, đoạn qua khu phố 7, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Phạm Văn U điều khiển xe ô tô biển số 48A-080.67 đã bật xi nhan để chuyển hướng vào lề đường phía bên phải, nhưng do thiếu chú ý quan sát không nhường đường cho xe đang lưu thông trên làn xe mô tô nên đã để phần phía trước bên phải đầu xe ô tô va chạm vào phần phía trước bên trái xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mxking, màu xanh – đen, biển số 66G1-570.23 do Nguyễn Văn V điều khiển lưu thông cùng chiều dẫn đến tai nạn xảy ra. Hậu quả, Nguyễn Văn V chết tại hiện trường. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã x m phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, g y thiệt hại cho tính mạng của bị hại. Với tình hình tai nạn giao thông phức tạp như hiện nay là do ý thức không chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông. Lỗi g y ra tai nạn là của bị cáo, dẫn đến bị hại chết. Do đó, bị cáo cần phải bị xử lý tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại đối với bị cáo; bị cáo là lao động chính trong gia đình theo quy định theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét bị cáo có nh n th n tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú r ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không g y ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh ph ng, chống tội phạm. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán T a án nh n d n tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán T a án nh n dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán T a án nh n d n tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, cho bị cáo hưởng án treo là đã đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên t a là phù hợp. Tuy nhiên, đại diện Viện kiểm sát chưa xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và chưa áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng cho bị cáo.

Về trách nhiệm d n sự: Bị cáo đã bồi thường chi phí mai táng và tổn thất tinh thần cho đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền là 258.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Về xử lý vật chứng: Do không áp dụng biện pháp cấm hành nghề nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Phạm Văn U 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2 số 670171006914 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Nông cấp ngày 18/7/2017 cho Phạm Văn U.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 260 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán T a án nh n d n tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán T a án nh n d n tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán T a án nh n d n tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn U phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn U 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án (19/9/2023).

Giao bị cáo Phạm Văn U cho Ủy ban nh n d n xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phạm Văn Út cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì T a án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

2. Về trách nhiệm d n sự: Đã giải quyết xong.

3. Về vật chứng của vụ án: Trả lại 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2, số 670171006914 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông cấp ngày 18/7/2017 cho Phạm Văn U.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 137.23 ngày 04/8/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ