- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Phú H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18/7/2023 V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khỏe
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phước Tường
2. Ông Huỳnh Văn Minh
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thị Kim Liêu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 271/2023/TLST-HNGĐ ngày 04/5/2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/6/2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Ngọc H, sinh năm 1992.
Địa chỉ: ấp L, xã M, huyện C, tỉnh T.
Tạm trú: ấp A, xã Đ, huyện C, T.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Phú H, sinh năm 1989.
Địa chỉ: ấp L, xã M, huyện C, tỉnh T.
(Chị H có mặt; anh H vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 04/5/2023 các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đặng Thị Ngọc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Do tìm hiểu quen biết trước Chị H và anh H xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M theo giấy đăng ký kết hôn số 79 ngày 09/12/2013. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Do cuộc sống vợ chồng sống không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn đoàn tụ lại được nên Chị H yêu cầu ly hôn với anh H.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Đặng Nhật H, sinh ngày 29/7/2014 và , sinh ngày 10/01/2016. Khi ly hôn Chị Hyêu cầu nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Phú H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, nhưng vẫn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Chị H và không có mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bị đơn anh Nguyễn Phú H đã được Toà án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà nhưng không có mặt để dự phiên toà mà không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H là có căn cứ đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Do tìm hiểu quen biết trước Chị H và anh H xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M theo giấy đăng ký kết hôn số 79 ngày 09/12/2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Do cuộc sống vợ chồng sống không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn đoàn tụ lại được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh H.
Xét, sau khi chị H và anh H xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2013, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian cho đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Sau khi Toà án thụ lý vụ án đã tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng cho anh H để thông báo về yêu cầu ly hôn của chị H, nhưng anh H không có ý kiến gì, không có mặt tham gia các phiên hoà giải và tham dự phiên tòa, nên không đưa ra được một biện pháp cụ thể nào để hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng. Anh H không đến dự phiên toà là anh mặc nhiên từ bỏ cơ hội để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Mặc dù, Tòa án đã động viên, hòa giải nhưng chị H vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh H. Từ những tình tiết này, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử nhận định tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Đặng Nhật H, sinh ngày 29/7/2014 và Nguyễn Ngọc Khánh H, sinh ngày 10/01/2016. Khi ly hôn chị H yêu cầu nuôi 02 con chung. Xét, từ khi chị H và anh H sống ly thân đến nay con chung do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, đảm bảo tốt về mọi mặt và theo lời khai của con chung có nguyện vọng được sống với chị H khi chị H và anh H ly hôn. Do đó, để ổn định cuộc sống cho con chung nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu H và H cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Tự thoả thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H, căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án nên Chị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Phú H.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Đặng Nhật H, sinh ngày 29/7/2014 và Nguyễn Ngọc Khánh H, sinh ngày 10/01/2016 cho chị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu. Anh H được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Đặng Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011318 ngày 04/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, nên xem như Chị H đã nộp xong tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị Ngọc H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh Nguyễn Phú H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cái Bè; - Chi cục THADS huyện Cái Bè; - UBND xã M; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hồ Văn Khỏe |