vanban.org

Bản án 165/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào quy định tại điểm g, khoản 02 điều 249, khoản 01 điều 255, điểm r, s khoản 01 điều 51, điểm a khoản 01 điều 55 Bộ luật hình sự.

[2] Tuyên bố: Bị cáo Lê Tuấn K phạm hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. [3]Xử phạt: Bị cáo Lê Tuấn K 05 ( năm ) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 ( hai) năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ TUẤN KIỆT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào quy định tại điểm g, khoản 02 điều 249, khoản 01 điều 255, điểm r, s khoản 01 điều 51, điểm a khoản 01 điều 55 Bộ luật hình sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

−−−−−−
Bản án số:165/2022/HSST
Ngày: 27/9/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

* Với thành phần tiến hành tố tụng tại điểm cầu trung tâm gồm :

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân.

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Kiều Thu.

2/ Ông Đỗ Văn Hòa.

-Thƣ ký phiên tòa: Ông Biện Anh Huy - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết mở phiên tòa xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số 130/2022/TLST- HS ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại 02 điểm cầu : Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Điểm cầu thành phần đặt tại Cơ sở giam giữ, Cơ quan thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp - Công an thành phố Phan Thiết (Sau đây gọi tắt là Cơ sở giam giữ Công an thành phố Phan Thiết) , theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2022/QĐXXST- HS ngày 09/9/2022, đối với bị cáo:

LÊ TUẤN K; Tên gọi khác: C; - Sinh năm: 1996 tại Bình Thuận.

- Nơi ĐKNKTT: khu phố 8, phường Đức L, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: khu phố 2, phường Phú T, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam.Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Không. Con ông: Lê Xuân L, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Lê Thị Bích V, sinh năm 1963; Vợ: Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1998; Con: Có 01 người con, sinh năm 2018.Tiền án, tiền sự: Không. Hoạt động nhân thân: Tại bản án số 190/2018/HSST ngày 29/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 13/5/2019, chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 06/10/2019, chấp hành xong hình phạt. Bị bắt tạm giữ từ ngày 01/6/2022, hiện đang tạm giam tại Cơ sở giam giữ Công an thành phố Phan Thiết.

Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

* Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần gổm :

1/Bà Nguyễn Thị Bích N- Thẩm phán Tòa án thành phố Phan Thiết.

2/ Ông Nguyễn Minh T- Cán bộ Cơ sở giam giữ Công an thành phố Phan Thiết.

3/ Ông Đỗ Văn H- Cán bộ Cơ sở giam giữ Công an thành phố Phan Thiết.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 5/2022, Lê Tuấn K đến bãi biển Thương C thuộc phường Hưng L gặp đối tượng tên N (không rõ nhân thân) mua 1.000.000 đồng ma túy rồi đem về cất giấu trong nắp quạt gió hiệu “kangaroo” tại phòng số 11 của nhà trọ số 69 đường Võ H thuộc khu phố 2, phường Phú T, thành phố Phan T mà K thuê để sử dụng dần.

Khoảng 06 giờ ngày 01/6/2022, K tiếp tục đến bãi biển Thương C thuộc phường Hưng L gặp N mua 02 tép ma túy với giá 600.000 đồng, K cất giấu ma túy vào trong túi quần. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, K rủ Nguyễn Văn T (sinh năm 1993, trú tại khu phố 7, phường Đức L) đến phòng trọ của K chơi và lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy(nỏ) cùng với 01 tép ma túy trong túi quần để trên nền nhà và rủ T sử dụng ma túy. K lấy nỏ ma túy có chứa ma túy, đốt lửa lên, rồi đưa cho T sử dụng.

Trong lúc K đang chuẩn bị lấy tép ma túy để sử dụng thì bị Tổ công tác thuộc Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bình Thuận phát hiện bắt quả tang thu giữ các gói chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy, cụ thể như sau:

-Thu giữ trên nền nhà trong phòng trọ của K 01 gói nylon không màu có nhịp kéo màu đỏ một đầu, kích thước khoảng (05 x 09) cm chứa chất tinh thể màu trắng( ký hiệu mẫu M1);

-Thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của K 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước khoảng (05 x 09) cm chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu mẫu M2)

- K tự nguyện giao nộp 01 gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước khoảng (05 x 08) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng do K cất giấu trong nắp quạt gió hiệu “kangaroo” trong phòng( ký hiệu mẫu M3).

Tại Bản kết luận giám định số 587/KLGĐ-PC09 ngày 07/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

“-Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,3409 gam, là Methamphetamine.

-Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,5287 gam, là Methamphetamine.

-Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 10,0994 gam, là Methamphetamine (bút lục số 32).

Tại bản cáo trạng số 127/QĐ/KSĐT/VKS-HS ngày 07 tháng 9 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Lê Tuấn K phạm 02 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo xác định nội dung cáo trạng truy tố không oan sai và khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:Về tội danh và hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đã giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 và khoản 1 Điều 255; điểm r, s khoản 01, điều 51, điểm a khoản 01 điều 55 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Tuẩn K từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 07 năm 06 tháng đến 08 Năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng quy định tại điểm a khoản 01 điều 46 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 02, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong các phong bì số 578/1; 578/2; 578/3 và 01 bộ dung cụ sử dụng ma túy đá tự chế, tịch thu sung công quỹ nhà nước điện thoại di động hiệu OPPO kèm sim bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc mua ma túy.

Lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình.Mong Hội đồng xem xét khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, bị cáo hứa sẽ cải tạo bản thân trở thành gnười tốt có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về đánh giá chứng cứ, xác định tội danh của bị cáo:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng Nguyễn Văn Thà, phù hợp với kết quả giám định về vật chứng thu giữ là chất ma túy của Phòng kỹ thuật Hình sự của Công an tỉnh Bình Thuận và các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Với mục đích sử dụng chất ma túy, nên Lê Tuấn K đã mua và cất giấu 10,969 gam Methamphetamine tại phòng trọ do K thuê tại số 69 đường Võ H thuộc khu phố 2, phường Phú T, thành phố Phan T, và đã bị Tổ công tác thuộc Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bình Thuận phát hiện thu giữ vào ngày 01/6/2022.

Với định lượng ma túy tàng trữ là Methamphetamine, có khối lượng từ 5 gam đến dưới 30 gam, hành vi của bị cáo Lê Tuấn K đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đồng thời vào khỏang 10h ngày 01/6/2022, Lê Tuấn K đã rủ Nguyễn Văn T đến phòng trọ do K thuê tại địa chỉ nêu trên, tại đây K đã lấy bộ dung cụ sử dụng ma túy , lấy tép ma túy vừa mua bỏ vào nỏ (dụng cụ sử dụng ma túy) rồi đốt giúp cho T sử dụng ma túy ngay tại phòng trọ của K.

Hành vi sử dụng địa điểm do mình quản lý, cung cấp chất ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy, rồi đốt giúp đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác do Lê Tuấn K thực hiện đối với Nguyễn Văn T trong vụ án, đã đủ các yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố đối với bị cáo với các tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho K, hiện cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân và địa chỉ nên chưa thể làm rõ để xử lý trong cùng vụ án.

Đối với Nguyễn Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng bị cáo K trong vụ án, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ đến Công an phường Đức L để xử lý hành chính theo quy định pháp luật.

Đánh giá nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét bị cáo về nhân than đã từng bị xử phạt tù có thời hạn về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không cố gắng cai nghiện lại tiếp tục phạm tội về ma túy.

Bị cáo biết rõ chất Methamphetamin là một trong những loại ma túy thuộc trong danh mục chất ma túy mà nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ sử dụng, vận chuyển, mua bán …vv. vì tác dụng nguy hại của nó đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội. Thế nhưng vì động cơ nghiện ngập của cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ nhằm mục đích sử dụng trái phép, đồng thời còn thực hiện hành vi tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy .

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý về chất ma túy của nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an địa phương. Do vậy cần thiết phải xử lý nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng chống tội phạm ma túy nói chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s, khoản 01, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo đã tự nguyện giao nộp khối lượng ma túy tàng trữ (mẫu M3), do vậy được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “tự thú” quy định tại điểm r khoản 01, Điều 51 Bộ luật hình sự, đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng:

-Đối với chất ma túy thu giữ của bị cáo trong vụ án còn lại sau khi giám định, các gói nylon đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 578/1; 578/2; 578/3; có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. Đây là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, do vậy sẽ bị tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 02, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO, có số IMEI 1: 869904054776037; Số IMEI 2: 869904054776029, chứa sim số 0325433742; và số 0923915647 thu giữ của K khi bắt quả tang, đây là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy do vậy sẽ tịch thu sung công quỹ nhà nước;

Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế không có giá trị sử dụng do vậy sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 02, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào quy định tại điểm g, khoản 02 điều 249, khoản 01 điều 255, điểm r, s khoản 01 điều 51, điểm a khoản 01 điều 55 Bộ luật hình sự.

[2] Tuyên bố: Bị cáo Lê Tuấn K phạm hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

[3]Xử phạt: Bị cáo Lê Tuấn K 05 ( năm ) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 ( hai) năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01/6/2022.

* Xử lý vật chứng: điểm a khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 02 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng hiện không có giá trị sử dụng và nhà nước cấm lưu hành là chất ma túyMethamphetamin, còn lại sau khi giám định và các bao ny lon đã cắt lấy mẫu , được niêm phong trong các phong bì số các gói nylon đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 578/1; 578/2; 578/3, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen, số IMEL1: 869904054776037, số IMEL2: 869904054776029 bên trong có chứa sim số 0325433742, 0923915647;

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 143 ngày 21/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết)

* Về án phí: Tuyên buộc bị cáo Lê Tuấn K phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm;

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2022).

Cỡ chữ