vanban.org

Bản án 165/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hà G đối với ông Lê Văn Q về việc “Ly hôn và tranh chấp con chung”

Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Hà G được ly hôn với ông Lê Văn Q. Về con chung: Giao con Lê Thị Gia H, sinh ngày 20/4/2017 cho bà Nguyễn Thị Hà G trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và trnh chấp nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hà G đối với ông Lê Văn Q về việc “Ly hôn và tranh chấp con chung”
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 165/2022/HNGĐ-ST
Ngày 03/8/2022
Về việc: “Ly hôn
và tranh chấp con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Thúy Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Thùy Hương

2/ Ông Đặng Hữu Tú

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thúy Hằng –Thư kýToà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Đại diện Viện kiểm sát kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa: Ông Trương Vui– Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2022/TLST - HNGĐ, ngày 05/4/2022 về việc: “Ly hôn và tranh chấp con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14/7/2022, giữa:

1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hà G – Sinh năm 1999; Nơi cư trú: Thôn C, xã Điện T, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (có mặt)

2/ Bị đơn: Ông Lê Văn Q – Sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn Q, xã Điện H, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/4/2022 và các lời khai tiếp theo tại Tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hà G trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Lê Văn Q cưới nhau vào đầu năm 2017 nhưng đăng ký kết hôn vào ngày 06/7/2017 kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Điện Hòa, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông, bà kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được sự đồng ý của hai bên gia đình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vả nên bà G bỏ về nhà cha mẹ ruột của bà ở xã Điện Thọ sống hơn 4 năm nay, vợ chồng không liên lạc, không Qn tâm nhau. Nay tình cảm không còn nên bà G yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn Q.

Về con chung: có 01 con chung Lê Thị Gia H, sinh ngày 20/4/2017, con hiện nay đang sống cùng với bà G, khi ly hôn bà G có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Ngoài ra bà Nguyễn Thị Hà G không có ý kiến gì khác.

Đối với bị đơn ông Lê Văn Q:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhiều lần triệu tập ông Lê Văn Q đến Tòa làm việc nhưng ông Q cố tình trốn tránh không đến Tòa nên không có lời trình bày của ông và không thực hiện được việc cấp tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng. Do đó, Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tại khoản 2 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân thủ pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án tiến hành đúng các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định pháp luật;

+ Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện, cho bà Nguyễn Thị Hà G được ly hôn với ông Lê Văn Q; về con chung: đề nghị giao con Lê Thị Gia Hân cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Văn Q mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hà G và ông Lê Văn Q kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà G khai là do vợ chồng sống không hợp nhau nên đã sống ly thân hơn 4 năm nay. Đối với ông Q, từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay, đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông Q theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông Q không đến Tòa, không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến thể hiện mong muốn được đoàn tụ chung sống. Do đó, xét thấy hôn nhân của vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà Nguyễn Thị Hà G được ly hôn với ông Lê Văn Q.

Về con chung: có 01 con chung Lê Thị Gia H, sinh ngày 20/4/2017, con hiện nay đang sống cùng với bà G, khi ly hôn bà G có nguyện vọng được nuôi con chung. Trường hợp này xét thấy: Từ khi vợ chồng bà G sống ly thân thì con chung ở với bà G, quá trình giải quyết vụ án ly hôn, ông Q không đến Tòa, không có ý kiến trình bày thể hiện việc mong muốn được nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt và ổn định môi trường sống cho con nên căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao con cho bà G tiếp tục nuôi dưỡng. Bà G không yêu cầu cấp dường nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà G khai không có. Tuy nhiên, do chưa làm việc được với ông Q nên không xác định được có tài sản chung, nợ chung không, vì vậy không xem xét giải quyết trong vụ án này. Khi nào các đương sự có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 147, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 luật phí và lệ phí, Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hà G đối với ông Lê Văn Q về việc “Ly hôn và tranh chấp con chung”

1. Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Hà G được ly hôn với ông Lê Văn Q.

2. Về con chung: Giao con Lê Thị Gia H, sinh ngày 20/4/2017 cho bà Nguyễn Thị Hà G trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động.

Ông Lê Văn Q được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hà G phải chịu 300.000 đồng án phí DSSTnhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số 0000959 ngày 05/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáotrong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ