- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Trần Thị Thùy T yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Phạm Quốc B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thùy T với bị đơn anh Phạm Quốc B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 165/2022/HNGĐ-ST Ngày 08/9/2022 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung;
2. Ông Nguyễn Đức Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phƣơng - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 398/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2022 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 182/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/8/2022, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thùy T, sinh năm 1991; thƣờng trú: Số 105 Nguyễn Văn Trỗi, khu phố T1, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có m t.
- Bị đơn: Anh Phạm Quốc B, sinh năm 1972; thƣờng trú: Số 105 Nguyễn Văn Trỗi, khu phố T1, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng m t.
Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1958 - Luật sƣ thuộc Văn phòng luật sƣ Phạm Văn B, đoàn luật sƣ tỉnh Bình Dƣơng; địa chỉ: 32 Nguyễn Du, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 6 năm 2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Thùy T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Trƣớc khi kết hôn chị Trần Thị Thùy T và anh Phạm Quốc B có tìm hiểu nhau khoảng 03 năm thì tiến thới hôn nhân, có kết hôn tại theo giấy chứng nhận kết số 6/2020-KH tại Uỷ ban nhân dân phƣờng D, thành phố D ngày 17 tháng 3 năm 2020, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn chị Trần Thị Thùy T và anh Phạm Quốc B sinh sống tại nhà anh Phạm Quốc B địa chỉ số 105 Nguyễn Văn Trỗi, khu phố T1, phƣờng D, tỉnh Bình Dƣơng. Trƣớc khi kết hôn chị Trần Thị Thùy T làm nghề điều dƣỡng tại Bệnh viện huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, sau khi kết hôn thì chị Trần Thị Thùy T ở nhà chăm sóc con và buôn bán cùng với gia đình tại nhà, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng. Anh Phạm Quốc B trƣớc đây đi làm tại công ty TNHH Uni-President Việt Nam với thu nhập khoảng từ 22.000.000 đồng tới 27.000.000 đồng, hiện nay anh Phạm Quốc B không làm tại công ty nhƣng vẫn có thu nhập từ nguồn khác nhƣng thu nhập bao nhiêu chị Trần Thị Thùy T không biết. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 3 năm 2021 cho đến nay. Từ tháng 3/2021 chị Trần Thị Thùy T và con sống tại địa chỉ E5/35 đƣờng 15B, Eco Home, An Hòa, Phƣờng An Hòa, thành phố Rạch Gía, tỉnh Kiên Giang, còn anh Phạm Quốc B vẫn sống ở số 105 Nguyễn Văn Trỗi, khu phố T1, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là: Anh Phạm Quốc B ghen tuông vô cớ, có hành vi bạo lực với chị Trần Thị Thùy T. Anh Phạm Quốc B có những lời lẽ phản cảm, thô tục, tán tỉnh chị gái của chị Trần Thị Thùy T, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân đạt đƣợc nên chị Trần Thị Thùy T yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Phạm Quốc B.
- Về con chung: Qúa trình chung sống chị Trần Thị Thùy T và anh Phạm Quốc B có 01 con chung tên Phạm Quốc Thiên L, sinh ngày 07/9/2020. Chị Trần Thị Thùy T có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu anh Phạm Quốc B cấp dƣỡng nuôi con.
-Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Quốc B vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 02/8/2022, anh Phạm Quốc B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Quốc B Toàn thống nhất với lời khai của chị Trần Thị Thùy T về thời gian tìm hiểu, chung sống và việc đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn. Từ tháng 3/2021 anh Phạm Quốc B cho chị Trần Thị Thùy T và con về quê chị T để thăm gia đình nhƣng từ đó đến nay nhiều lần anh Phạm Quốc B có ý định đón chị T và con về sinh sống cùng anh Phạm Quốc B nhƣng chị T không đồng ý, vì vậy
2
từ tháng 3/2021 vợ chồng không sinh sống cùng nhau, anh Bảo vẫn gửi tiền cho chị Trang để cấp dƣỡng nuôi con, từ tháng 3/2021 đến nay chị Trang bỏ m c, không chăm sóc anh B. Nay, chị Trần Thị Thùy T có yêu cầu đƣợc ly hôn, anh Phạm Quốc B không đồng ý vì tôi còn yêu thƣơng vợ con, không muốn gia đình đổ vỡ. Tôi không biết lý do vì sao chị Trần Thị Thùy T yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Anh Phạm Quốc B và chị Trần Thị Thùy T có 01 chung tên Phạm Quốc Thiên L, sinh ngày 07/9/2020. Anh Phạm Quốc B không đồng ý ly hôn, tuy nhiên nếu trong trƣờng hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng tôi ly hôn, anh Phạm Quốc B đồng ý giao con chung cho chị Trần Thị Thùy T trực tiếp nuôi dƣỡng, không cấp dƣỡng nuôi con.
Hiện nay, anh Phạm Quốc B đang thất nghiệp, không có việc làm, không có thu nhập. Chị Trang trƣớc đây làm y sỹ nhƣng từ khi kết hôn thì chị Trang ở nhà làm nội trợ, chăm sóc con, hiện nay chị Trang không có công việc, không có thu nhập.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt và không có ý kiến trình bày.
Tại biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố D tại Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng D thể hiện: Chị Trần Thị Thùy T không phải là hội viên hội phụ nữ phƣờng. Trƣớc khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án, chị Trần Thị Thùy T không yêu cầu địa phƣơng hòa giải cơ sở. Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng D cũng không tiếp nhận thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng những ngƣời dân phản ánh. Vì vậy, Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng D không rõ nguyên nhân mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị Trần Thị Thùy T và anh Phạm Quốc B.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D tham gia phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia nhƣng vắng m t không có lý do, ngƣời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng m t tại phiên tòa và có đơn xin hoãn phiên tòa tuy nhiên không có lý do chính đáng nên HĐXX xét xử vắng m t bị đơn, ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là đúng quy định. Về nội dung; Về quan hệ hôn nhân: Quá trình chung sống anh Phạm Quốc B và chị Trần Thị Thùy T phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn nên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Thùy T; Về con chung giao cháu Phạm Quốc Thiên L, sinh ngày 07/9/2020 cho chị Trần Thị Thùy T trực tiếp nuôi dƣỡng, ghi nhận sự tƣ nguyện của chị Trần Thị Thùy T về việc không yêu cầu
3
anh Phạm Quốc B cấp dƣỡng nuôi con; về tài sản chung, nghĩa vụ chung, các đƣơng sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Phạm Quốc B để tham gia phiên tòa vào ngày 15/8/2022 nhƣng anh Phạm Quốc B có đơn xin hoãn phiên tòa, đến ngày 08/9/2022 Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Phạm Quốc B để tham gia phiên tòa nhƣng anh Phạm Quốc B vắng m t không rõ lý do. Ngƣời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn là ông Phạm Văn B có đơn xin hoãn phiên tòa ngày 08/9/2022 với lý do: bận công việc đột xuất, xét thấy ngƣời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn xin hoãn phiên tòa với lý do “Công việc đột xuất” không thuộc trƣờng hợp bất khả kháng ho c trở ngại khách quan đƣợc pháp luật quy định. Do đó không có cơ sở chấp nhận việc xin hoãn phiên tòa mở lần 2 của Tòa án án nhân thành phố D. Căn cứ điểm b, điểm d khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng m t bị đơn và ngƣời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Quốc B và chị Trần Thị Thùy T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phƣờng D, thị xã Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng theo Giấy chứng nhận kết số 6/2020-KH ngày 17 tháng 3 năm 2020 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị Trần Thị Thùy T cho rằng trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân vợ chồng không có sự chia sẻ, anh Phạm Quốc B ghen tuông, có hành vi bạo lực với chị Trần Thị Thùy T và anh Phạm Quốc B nhiều lần nhắn tin với những lời lẽ phản cảm với chị gái của chị Trần Thị Thùy T. Anh Phạm Quốc B và chị Trần Thị Thùy T sống ly thân từ tháng 3/2021 cho đến nay. Anh Phạm Quốc B không đồng ý ly hôn và xác định vợ chồng không có mâu thuẫn, tuy nhiên chị Trần Thị Thùy T bỏ m c, không quan tâm đến anh Phạm Quốc B, từ tháng 3/2021 anh Phạm Quốc B cho chị Trần Thị Thùy T và con về quê chơi khoảng 01 tháng nhƣng từ đó đến nay chị Trần Thị Thùy T không quay trở lại chung sống với anh Phạm Quốc B. Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải thƣơng yêu, quý trọng, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi m t. Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Phạm Quốc B và chị Trần Thị Thùy T, thời gian kết hôn mới hơn 02 năm nhƣng thực tế chỉ sống chung với nhau 01 năm, thời gian còn lại vợ chồng không sống chung, không có sự chia sẻ, không quan tâm đến nhau, không tin tƣởng lòng chung thủy của nhau vì vậy mâu thuẫn giữa anh Phạm Quốc B và chị Trần Thị Thùy T đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Anh Phạm Quốc B không đồng ý ly hôn nhƣng sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh Phạm Quốc B không có m t, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự
4
không còn và không muốn hàn gắn, đồng thời vào năm 2021, chị Trần Thị Thùy T đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Phạm Quốc B nhƣng chị Trần Thị Thùy T đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng có cơ hội đoàn tụ, cùng nuôi dạy con cái nhƣng không có kết quả nên chị Trần Thị Thùy T tiếp tục làm xin ly hôn. Từ những phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Thùy T là có cơ sở chấp nhận theo quy định Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị Trần Thị Thùy T và anh Phạm Quốc B có 01 con chung là cháu Phạm Quốc Thiên L, sinh ngày 07/9/2020. Chị Trần Thị Thùy T có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi con chung. Xét thấy cháu Phạm Quốc Thiên L còn nhỏ, dƣới 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc trực tiếp của ngƣời mẹ, đồng thời từ khi vợ chồng sống ly thân con chung ở với chị Trần Thị Thùy T do chị Trang trực tiếp chăm sóc vẫn đảm bảo tốt về mọi m t vì vậy cần giao cháu Phạm Quốc Thiên L cho chị Trần Thị Thùy T trực tiếp nuôi dƣỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Thùy T về việc không yêu cầu anh Phạm Quốc B phải cấp dƣỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Các đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung (nợ chung): Các đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thùy T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh Phạm Quốc B không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào các Điều 147, 217, 218, 219 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thùy T với bị đơn anh Phạm Quốc B.
5
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thùy T đƣợc ly hôn với anh Phạm Quốc B (Giấy chứng nhận kết hôn số 6/2020-KH do Ủy ban nhân dân phƣờng D, thị xã Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 17 tháng 3 năm 2020).
1.2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Phạm Quốc Thiên L, sinh ngày 07/9/2020 cho chị Trần Thị Thùy T trực tiếp nuôi dƣỡng.
Sau ly hôn, chị Trần Thị Thùy T và anh Phạm Quốc B đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi m t của con khi một ho c cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.
1.3. Về cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Thùy T về việc không yêu cầu anh Phạm Quốc B cấp dƣỡng nuôi con.
1.4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: các Đƣơng sự không yêu cầu giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thùy T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 003989 ngày 17/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
3. Nguyên đơn có m t tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng m t tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c ngày bản án đƣợc tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Các đƣơng sự (2); - VKSND thành phố D (1); - CC THADS thành phố D (1); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (1); - UBND phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng (1); - Lƣu: VT, hồ sơ vụ án (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Kiều Thị Uyên 6 7 |