vanban.org

Bản án 165/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận cho chị Phú Kim P được ly hôn với anh Trương Phúc K.

Về con chung: Chị Phú Kim P khai không có, nên không xem xét. Về tài sản chung: Chị Phú Kim P không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, còn anh Trương Phúc K thì không có lời trình bày về tài sản chung, nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các đương sự được quyền yêu cầu Tòa án g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận cho chị Phú Kim P được ly hôn với anh Trương Phúc K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 9 - 2022
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Thoa

Bà Trần Thị Kim Tân

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diến – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 413/2022/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2022/QĐXXST-HNG ngày 26 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2022/QĐST- HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phú Kim P - sinh năm 1994 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 3, phường X, thành phố K, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Trương Phúc K - sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn G, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phú Kim Phụng trình bày:

Chị Phú Kim P và anh Trương Phúc K tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện L. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, anh K nhiều lần cờ bạc đánh đập, chửi bới vợ. Vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, nên đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, anh K bỏ mặc, không muốn hàn gắn vợ chồng. Nay chị P yêu cầu được ly hôn với anh K, vì tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn.

Vợ chồng có không có con chung.

Chị P khai vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Trương Phúc K cố tình vắng mặt không đến làm việc theo triệu tập của Tòa án, nên không có lời trình bày. Anh K cũng không cung cấp chứng cứ hay trình bày ý kiến của mình đối với các vấn đề về con chung, tài sản chung và nợ chung.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn về cơ bản đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn không chấp hành triệu tập của Tòa án là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Phú Kim P được ly hôn với anh Trương Phúc K; Về con chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phú Kim P và anh Trương Phúc K tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2019, nên hôn nhân của anh chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Chị Phú Kim P cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng không có hạnh phúc, do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh K nhiều lần cờ bạc, đánh đập, chửi bới vợ. Vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, sống ly thân từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay. Trong thời gian ly thân anh K bỏ mặc không muốn hàn gắn vợ chồng. Nay chị P xác định không còn tình cảm vợ chồng và không còn muốn tiếp tục chung sống với anh K, còn anh K thì cũng thờ ơ, không còn quan tâm trong tình cảm đối với chị P, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do đó, tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nghĩ nên chấp nhận cho chị P được ly hôn với anh K.

Về con chung: Chị Phú Kim P khai không có, nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị P khai vợ chồng không có nợ chung, còn anh K thì không có lời trình bày về nợ chung, nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các đương sự được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, còn anh K thì không có lời trình bày về tài sản chung, nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các đương sự được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Chị P phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận cho chị Phú Kim P được ly hôn với anh Trương Phúc K.

2. Về con chung: Chị Phú Kim P khai không có, nên không xem xét.

3. Về tài sản chung: Chị Phú Kim P không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, còn anh Trương Phúc K thì không có lời trình bày về tài sản chung, nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các đương sự được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

4. Về nợ chung: Chị Phú Kim P khai vợ chồng không có nợ chung, còn anh Trương Phúc K thì không có lời trình bày về nợ chung, nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các đương sự được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

5. Về án phí: Chị Phú Kim P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) chị Phú Kim P nộp theo biên lai thu số 0006572 ngày 14/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được tính trừ vào án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ