vanban.org

Bản án 165/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 13/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sỉ T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Sỉ T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 6 năm 2021. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyên Tan A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sỉ T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2021/HSST
Ngày: 13/12/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Phương và bà Lê Thị Kim Xuyến.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N tỉnh Đồng Nai xét xử, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 194/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Sỉ T, sinh năm 1993, tại Đồng Nai.

HKTT: ấp 8, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: ấp V, xã V1, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Thiên chúa

Nghề nghiệp: Công nhân.

Trình độ học vấn: 12/12.

Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1961 và bà Trần Thị C (đã chết).

Bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình.

Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18 tháng 6 năm 2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Ngọc Tuấn H, sinh năm 1979, địa chỉ: ấp H1, xã V1, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt; người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoàng 15 giờ 20 phút ngày 18 tháng 6 năm 2021, Nguyễn Sỉ T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1435 gam nhằm mục đích để sử dụng tại ấp V, xã V1, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng; 01 chai nước nhãn hiệu trà ô long trên nắp chai có gắn một đoạn ống hút màu xanh và 01 ống thủy tinh (nỏ); 01 hộp quẹt gas; 01 Điện thoại Nokia màu đen có gắn sim 0901094422.

Tại Bản kết luận giám định số 1322/KLGĐ-PC09 ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1435 gam, loại Methamphetamine.

Ngày 28 tháng 6 năm 2021, Cơ quan điều tra Công an huyện N đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Sỉ T để điều tra.

Quá trình điều tra Nguyễn Sỉ T khai nhận:

Nguyễn Sỉ T là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 10 giờ 00 phút ngày 18 tháng 6 năm 2021, Nguyễn Sỉ T bắt xe ôm đến đường X, Quận Y, thành phố Hồ Chí Minh gặp người tên T1 (không rõ nhân thân), do biết T1 có ma túy nên T hỏi mua ma túy của T1 với giá 500.000 đồng rồi bắt xe ôm về phòng trọ của T tại ấp V, xã V1, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Về đến phòng trọ, T lấy một phần ma túy đã mua của T1 ra để sử dụng, số ma túy còn lại T cất giấu vào ngăn kéo bàn ở trong phòng trọ của mình. Khi T đang sử dụng ma túy thì có Nguyễn Thanh S, sinh năm 1982, địa chỉ: ấp H1, xã V1, huyện N; Nguyễn Huy C1, sinh năm 1982, địa chỉ: ấp H1, xã V1, huyện N; Trương Quốc D1, sinh năm 1994, địa chỉ: ấp 3, xã P, huyện N; Đặng Duy P1, sinh năm 1997, địa chỉ: ấp S1, xã V1, huyện N và Nguyễn Ngọc Tuấn H, sinh năm 1979, địa chỉ: ấp H1, xã V1, huyện N đến phòng trọ của T chơi. Do thấy T đang sử dụng ma túy nên T, S, C1, D1, P1 cùng vào sử dụng chung ma túy, riêng H không sử dụng. Đến 15 giờ 20 phút cùng ngày, Công an xã V1 đến kiểm tra hành chính và phát hiện bắt quả tang S, C1, D1, P1 đang sử dụng ma túy và thu giữ 01 gói ma túy còn lại của T đang cất giấu ở trong ngăn kéo.

Tại cáo trạng số 182/CT-VKS-NT ngày 04 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố Nguyễn Sỉ T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,0937 gam được niêm phong ký hiệu số: 1322/KLGĐ-PC09 ngày 24/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 chai nước nhãn hiệu trà ô long trên nắp chai có gắn một đoạn ống hút màu xanh; 01 ống thủy tinh; 01 hộp quẹt gas là tang vật vụ án.

Trả lại 01 điện thoại Nokia màu đen có gắn sim số 0901094422 cho bị cáo Nguyễn Sỉ T do không liên quan đến vụ án.

Đối với Nguyễn Huy C1, Nguyễn Thanh S, Trương Quốc D1, Đặng Duy P1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã V1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với người tên T1 có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Sỉ T, do chưa rõ nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung truy tố tại bản cáo trạng và đánh giá phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị căn cứ Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo T từ 16 tháng đến 18 tháng tù.

- Bị cáo Nguyễn Sỉ T không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu, bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố; Hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Người làm chứng được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt, tuy nhiên đã có lời khai trong quá trình điều tra, không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.

Về trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu được, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đúng như hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước tòa, cho thấy bị cáo đã có hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 15 giờ 20 phút ngày 18 tháng 6 năm 2021, tại phòng trọ thuộc ấp V, xã V1, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Sỉ T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,1435 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an xã V1, huyện N phát hiện bắt quả tang cùng tang vật và chuyển hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N xử lý theo thẩm quyền.

Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Sỉ T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy sẽ gây hiểm họa mắc nhiều căn bệnh nguy hiểm, là mầm mống của nhiều loại tội phạm khác nhưng vì xem thường pháp luật bị cáo vẫn cất giấu để sử dụng. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nhân thân tốt là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét trách nhiệm hình sự cho bị cáo và cũng để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

Đối với Nguyễn Huy C1, Nguyễn Thanh S, Trương Quốc D1, Đặng Duy P1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã V1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với người tên T1 có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Sỉ T, do chưa rõ nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,0937 gam được niêm phong ký hiệu số: 1322/KLGĐ-PC09 ngày 24/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 chai nước nhãn hiệu trà ô long trên nắp chai có gắn một đoạn ống hút màu xanh; 01 ống thủy tinh; 01 hộp quẹt gas là tang vật vụ án.

Trả lại 01 điện thoại Nokia màu đen có gắn sim số 0901094422 cho bị cáo Nguyễn Sỉ T do không liên quan đến vụ án.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sỉ T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Sỉ T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 6 năm 2021.

2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,0937 gam được niêm phong ký hiệu số: 1322/KLGĐ-PC09 ngày 24/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 chai nước nhãn hiệu trà ô long trên nắp chai có gắn một đoạn ống hút màu xanh; 01 ống thủy tinh; 01 hộp quẹt gas là tang vật vụ án.

Trả lại 01 điện thoại Nokia màu đen có gắn sim số 0901094422 cho bị cáo Nguyễn Sỉ T do không liên quan đến vụ án.

Vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 9 năm 2021.

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Sỉ T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ