vanban.org

Bản án 165/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Bùi Thiện H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Xử phạt bị cáo Bùi Thiện H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/04/2021. Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 2686/21 có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thiện H Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Bùi Thiện H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TH NH H HỒ CH MINH
Bản án số: 165/2021/HSST
Ngày: 03/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, TH NH H H CH MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Văn Sơn.

2. Bà Võ Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Dũng – Thư ký T a án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n C Chi, Thành ph Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 157/2021/HSST, ngày 19 tháng 07 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2021/QĐSTST-HS ngày 01/10/2021 và Quyết định hoãn phiên t a số: 208/2021/HSST-QĐ, ngày 19/10/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thiện H, sinh năm 1990, giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp , xã , huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Anh T và bà han Thị Mỹ P; Anh chị em ruột có 04 người kể cả bị cáo, bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thanh T, có 01 con, sinh năm 2017.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 30/01/2018, T a án nhân dân huyện Củ Chi ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 31/QĐ-TA, đến ngày 23/05/2020 chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/04/2021 đến nay, hiện có mặt tại phiên t a.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thiện H bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2017 và bị đưa đi cai nghiện bắt buộc đến 23/5/2020 về địa phương. Ngày 25/4/2021, H có nhu cầu sử dụng ma túy lại nên gọi điện thoại cho Bi A (không rõ lai lịch) có số điện thoại 0923415907 hỏi mua 500.000 đồng ma túy rồi H đem ma túy về nhà sử dụng hết. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/4/2021, H tiếp tục gọi điện thoại cho Bi A hỏi mua 400.000 đồng ma túy và hẹn địa điểm giao nhận tại khu vực nghĩa địa thuộc ấp T, xã T, huyện C, T . Hồ Chí Minh. H điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu trắng đen biển số 59 2-532.42 đến điểm hẹn để mua ma túy. Khi có ma túy, H cất giấu ma túy vào khẩu trang đang đeo rồi điều khiển xe mô tô đến đoạn đường N thuộc ấp 7, xã T, huyện C, T . Hồ Chí Minh. Khi đến trước nhà số 7B, đường N, H dừng xe và gọi điện thoại rủ một người bạn (chưa rõ lai lịch) cùng sử dụng ma túy. Do H nghe người này cãi nhau qua điện thoại nên H tắt điện thoại và định điều khiển xe đi về thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang H tàng trữ 01 gói nylon chứa ma túy trong khẩu trang đang đeo vào lúc 14 giờ 00 cùng ngày.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với H: dương tính.

Tại Kết luận giám định số 2868/KLGĐ-MT ngày 07/5/2021 của h ng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Bùi Thiện H và hình dấu Công an xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0220g, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói niêm phong mang số vụ 2686/21 có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 358113067639988/01;

- 01 xe mô tô biển số 59 2-532.42, số khung: RLCUE3240HY073351, số máy: E3X9E191756.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi và tại phiên t a, bị cáo Bùi Thiện H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên và khai rằng: Ngày 25/4/2021, H gọi điện thoại cho Bi A (không rõ lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy rồi H đem ma túy về nhà sử dụng hết. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/4/2021, H tiếp tục gọi điện thoại cho Bi A hỏi mua 400.000 đồng ma túy cất giấu ma túy vào khẩu trang đang đeo rồi điều khiển xe mô tô đến đoạn đường N thuộc ấp 7, xã T, huyện C, H dừng xe và gọi điện thoại rủ một người bạn (chưa rõ lai lịch) cùng sử dụng ma túy. Do H nghe người này cãi nhau qua điện thoại nên H tắt điện thoại và định điều khiển xe đi về thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang H tàng trữ 01 gói nylon chứa ma túy trong khẩu trang đang đeo có khối lượng 1,0220g, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 160/CT-VKS.CC ngày 14/07/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước T a án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Bùi Thiện H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Bùi Thiện H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị:

Tuyên bố:

- Bị cáo Bùi Thiện H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Bùi Thiện H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

- Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 2686/21 có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra;

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 358113067639988/01 và 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 59 2-532.42, số khung: RLCUE3240HY073351, số máy: E3X9E191756.

Tại phiên t a, bị cáo Bùi Thiện H không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên t a bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo Bùi Thiện H có hành vi mua gói ma túy có khối lượng 1,0220g loại Methamphetamine về để sử dụng. Bằng hành vi trên, bị cáo Bùi Thiện H đã phạm tội tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân.

Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn mua chất ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, cai nghiện ma túy và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt đồng thời ph ng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng là phù hợp.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:

Nhân thân:

Bị cáo có nhân thân xấu.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên t a bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về vật chứng vụ án:

01 gói niêm phong mang số vụ 2686/21 có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra là vật chứngliên quan đến hành vi phạm tội, do đó tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 358113067639988/01 của bị cáo H dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, do đó tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 59 2-532.42, số khung: RLCUE3240HY073351, số máy: E3X9E191756 là của bà Trần Hoài T, qua xác minh bà T không c n cư ngụ tại địa phương, đi đâu không rõ, cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả, do đó cần tiếp tục truy tìm chủ sở hữu để trả lại cho họ, nếu vẫn không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Đối với người thanh niên tên Bi A bán chất ma túy cho bị cáo Bùi Thiện H chưa xác định nhân thân, lý lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi sẽ tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau; Viện kiểm sát không ý kiến; Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục làm rõ để xử lý là phù hợp nên không xét trong vụ án này.

[5] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Bùi Thiện H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

- Bị cáo Bùi Thiện H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Bùi Thiện H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/04/2021.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 2686/21 có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 358113067639988/01.

Tiếp tục thông báo truy tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 59 2-532.42, số khung: RLCUE3240HY073351, số máy: E3X9E191756, nếu tìm được chủ sở hữu thì trả lại cho họ quản lý sử dụng, nếu vẫn không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Bùi Thiện H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên t a được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ