vanban.org

Bản án 165/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 15/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Gia K, Trần Văn L, Nguyễn T L, Trần Văn H, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Gia B và Nguyễn Văn S phạm tội “Đánh bạc”.

Nguyễn Gia K 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trần Văn H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Gia K, Trần Văn L, Nguyễn T L, Trần Văn H, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Gia B và Nguyễn Văn S phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

* * * * * * *
Bản án số: 165/2021/HS-ST
Ngày: 15-12-2021.

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tưởng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Liên

Bà Tô Thị Đào

- Thư ký phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Thảo – Thư ký TAND huyện Chương Mỹ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở TAND huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 171/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo :

1. Nguyễn Gia K, sinh năm 1974; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đồi 2, xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12 Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Gia Phú và bà Nguyễn Thị Phượng; có vợ là Nguyễn Thị Ánh Tuyết; có 03 con; lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/8/2021 đến ngày 31/8/2021. Bị cáo tại ngoại.

2. Trần Văn L, sinh năm 1979; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đồi 2, xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Trần Văn Luân (đã chết) và bà Nguyễn Thị Rộng (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Thêu; có 02 con, lớn sinh năm 2004 và nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/8/2021 đến ngày 31/8/2021. Bị cáo tại ngoại.

3. Nguyễn Gia B, sinh năm 1985; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đồi 2, xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Gia Lăng và bà Nguyễn Thị Tành; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/8/2021 đến ngày 31/8/2021. Bị cáo tại ngoại.

- 2 -

4. Trần Văn H, sinh năm 1970; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đồi 3, xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Trần Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thi (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Hương; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 16/11/1995 bị TAND tỉnh Hà Tây xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án troe, thời gian thử thách 5 năm về tội làm hàng giả; Ngày 08/6/2012 bị Công an huyện Chương Mỹ xử phạt hành chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/8/2021 đến ngày 31/8/2021. Bị cáo tại ngoại.

5. Nguyễn Trọng T, sinh năm 1977; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đồi 1, xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Trọng Tua (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lượng; có vợ là Nguyễn Thị Châu; có 03 con; lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền sự, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2021 đến ngày 31/8/2021. Bị cáo tại ngoại.

6. Nguyễn T L, sinh năm: 1974; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đồi 2, xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Ấp (đã chết) và bà Nguyễn Thị Khanh (đã chết); có vợ là Trần Thị Hường; có 02 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2021 đến ngày 31/8/2021. Bị cáo tại ngoại.

7. Nguyễn Văn S, sinh năm: 1979; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Yên Kiện, xã Đông Sơn, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Minh Đương và bà Nguyễn Thị Lựu; có vợ là Trần Thị Hiền; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2021 đến ngày 31/8/2021. Bị cáo tại ngoại.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 28/8/2021, Nguyễn Gia K đang ở nhà tại thôn Đồi 2, xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, TP.Hà Nội thì có các đối tượng Nguyễn T L, Nguyễn Gia B, Trần Văn L đều trú tại thôn Đồi 2, xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, TP.Hà Nội và Nguyễn Trọng T trú tại thôn Đồi 1, xã

- 3 -

Đông Phương Yên, Nguyễn Văn S trú tại thôn Yên Kiện, xã Đông Sơn, huyện Chương Mỹ, TP.Hà Nội đến nhà K chơi. Sau đó, K rủ mọi người đánh bạc bằng hình thức đánh “Chắn”, được thua bằng tiền. Mọi người đồng ý và hỏi K cho mượn nhà làm địa điểm để đánh bạc, K đồng ý. Sau đó, K lấy 02 bộ bài chắn, mỗi bộ gồm 100 quân bài, 02 đĩa (01 đĩa nhựa và 01 đĩa men sứ) để mọi người đánh bạc. K nhờ L ngồi chia bài cho các đối tượng đánh bạc và hứa trả cho L 200.000 đồng tiền công ngồi chia bài sau khi các đối tượng kết thúc đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc bằng hình thức đánh “Chắn quăng” và quy định: ù suông 40.000 đồng, dịch 20.000 đồng, ù chì 60.000 đồng, ù tôm 80.000 đồng, ù lèo 100.000 đồng, ù bạch định 120.000 đồng, ù tám đỏ 140.000 đồng, bạch thủ chì 160.000 đồng. Ngoài ra, ù các cước sắc như bạch định, tám đỏ hoặc bạch thủ chì thì ba người chơi còn lại mất thêm tiền “Gà” cho người được ù cước sắc 100.000 đồng. Nếu ai được ù có “Gà” thì phải bỏ ra 50.000 đồng (tiền Gà) cho K (chủ nhà) được hưởng. Sau khi thống nhất xong các đối tượng cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Chắn” được thua bằng tiền. Các đối tượng đánh bạc được khoảng 15 phút thì có Trần Văn H SN 1970 trú tại thôn Đồi 3, xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, TP.Hà Nội đến nhà K. Lúc này, S bị thua hết tiền nên H vào thay vị trí của S để tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh “Chắn” cùng các đối tượng, còn S ngồi xem các đối tượng đánh bạc. Đến khoảng 18 giờ 00 phút, cùng ngày Công an xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, TP.Hà Nội phát hiện bắt quả tang, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở để làm việc.

Vật chứng thu giữ: 02 (hai bộ bài chắn gồm 100 quân bài; 01 (một) đĩa men sứ hình tròn, 01 (một) đĩa nhựa hình tròn; Số tiền thu tại chiếu là: 14.550.000 đồng trong đó có 950.000 đồng tiền gà. Thu giữ trên người Nguyễn Trọng T là 15.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, các bị can đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Gia K là người khởi sướng và chuẩn bị dụng cụ, nhờ Trần Văn L ngồi chia bài cho các đối tượng đánh bạc, đồng ý cho 5 đối tượng đánh bạc bằng hình thức đánh “Chắn” tại nhà ở của mình để hưởng lợi tiền “Gà” từ các đối tượng đánh bạc; Trần Văn L là người chia bài cho 05 đối tượng đánh bạc bằng hình thức đánh “Chắn” để hưởng 200.000 đồng tiền công chia bài; Nguyễn Gia B có 4.250.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Trần Văn H có 4.000.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Trọng T có 18.300.000 đồng, T sử dụng 3.300.000 đồng vào mục đích đánh bạc và 15.000.000 đồng trên người T; Nguyễn T L có 2.800.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Văn S có 200.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Tại cáo trạng số 169/CT-VKS ngày 29/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Gia K, Trần Văn L, Nguyễn T L, Nguyễn Trọng T, Trần Văn H, Nguyễn Gia B và Nguyễn Văn S đều về tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 của Bộ L hình sự.

- 4 -

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ sau khi phân tích, giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Gia K, Trần Văn L, Nguyễn T L, Nguyễn Trọng T, Trần Văn H, Nguyễn Gia B và Nguyễn Văn S phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ L hình sự đối với Nguyễn Gia K, Trần Văn L, Nguyễn T L, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Gia B và Nguyễn Văn S. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của BLHS đối với bị cáo Nguyễn T L.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ L hình sự đối với Trần Văn H.

Đề nghị xử phạt:

Nguyễn Gia K từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Trần Văn L từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Nguyễn T L từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Nguyễn Trọng T từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Nguyễn Gia B từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Nguyễn Văn S từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Trần Văn H từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Về tang vật: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài chắn; 01 đĩa nhựa; 01 đĩa men sứ đều không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 14.550.000 đồng;

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp L;

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc của mình như nội dung cáo trạng quy kết. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- 5 -

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Chương Mỹ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, Truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ L tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Gia K, Trần Văn L, Nguyễn T L, Nguyễn Trọng T, Trần Văn H, Nguyễn Gia B và Nguyễn Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ đã quy kết. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14h00” ngày 28/8/2021 bị cáo K đã dùng nhà ở của mình và chuẩn bị dụng cụ cho các bị cáo T, B, H, L và S đánh bạc dưới hình thức đánh chắn, được thua bằng tiền, bị cáo L chia bài cho các đối tượng đánh bạc. Các đối tượng chơi đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Công an xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc là 14.550.000 đồng (trong đó có 950.000 đồng tiền gà), thu trên người Nguyễn Trọng T 15.000.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào đánh bạc là 14.550.000 đồng. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Gia K đã dùng nhà ở của mình, chuẩn bị dụng cụ cho các đối tượng đến đánh bạc, do vậy hành vi của bị cáo K phạm tội Đánh bạc với vai trò là đồng phạm; hành vi của bị cáo L đã chia bài để cho các đối tượng đánh bạc nên cũng phạm tội Đánh bạc với vai trò đồng phạm; hành vi của các bị cáo T, B, H, L và S đã trực tiếp tham gia đánh bạc nên hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ L hình sự. Như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp L.

. Xét hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp L; hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự và an toàn công cộng một khách thể được L hình sự B vệ, ngoài ra còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương và an toàn xã hội, gây nhức nhối trong nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục cải tạo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

- 6 -

Đánh giá vai trò của các bị cáo thì thấy: Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo K là chủ nhà và bị cáo L là người trực tiếp chia bài giúp các đối tượng đánh bạc nên giữ vai chính, do vậy cần phải xử lý cao hơn so với các bị cáo khác. Đối với các bị cáo Nguyễn Gia B khi tham gia đánh bạc có 4.250.000 đồng, Trần Văn H có 4.000.000 đồng, Nguyễn Trọng T có 3.300.000 đồng, Nguyễn T L có 2.800.000 đồng và Nguyễn Văn S có 200.000 đồng, các bị cáo trên trực tiếp đánh bạc, do vậy các bị cáo cũng phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo.

. Đánh giá các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Đối với bị cáo Trần Văn H có nhân thân xấu năm 1995 bị xử về hành vi làm hàng giả đã được xóa án tích và năm 2012 bị xử lý hành chính về hành vi Đánh bạc. Căn cứ nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo H được coi là không có án tích.

Về tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ là khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn hối cải đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS; đối với các bị cáo Nguyễn Gia K, Trần Văn L, Nguyễn T L, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Gia B và Nguyễn Văn S phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ L hình sự; bị cáo Nguyễn T L có bố tham gia quân đội và được tặng thưởng huân huy chương, đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy các bị cáo K, L, L, T, B, H và S có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo hưởng mức án có điều kiện cũng đủ răn đe giáo dục và phòng ngừa chung đối với các bị cáo.

Ngoài hình phạt chính các bị cáo có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, xét thấy các bị cáo gia đình hoàn cảnh khó khăn nên miễn phạt bổ sung cho các bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài chắn; 01 đĩa sứ hình tròn và 01 đĩa nhựa đều không còn giá trị sử dụng; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 14.550.000 đồng.

Đối với số tiền 15.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Trọng T, đó là số tiền bị cáo không sử dụng vào mục đích đánh bạc, do vậy cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là có căn cứ.

. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Gia K, Trần Văn L, Nguyễn T L, Trần Văn H, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Gia B và Nguyễn Văn S phạm tội “Đánh bạc”.

- 7 -

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ L hình sự đối với Trần Văn H.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ L hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Gia K, Trần Văn L, Nguyễn T L, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Gia B và Nguyễn Văn S. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo L.

Xử phạt:

- Nguyễn Gia K 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Trần Văn H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm..

- Trần Văn L 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Nguyễn Gia B 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Nguyễn Trọng T 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Nguyễn T L 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Nguyễn Văn S 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nguyễn Gia K, Trần Văn L, Nguyễn T L, Trần Văn H, Nguyễn Trọng T và Nguyễn Gia B cho UBND xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội và gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo và Nguyễn Văn S cho UBND xã Đông Sơn, huyện Chương Mỹ, Tp Hà Nội và gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của L thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

Miễn các hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài chắn; 01 đĩa nhựa; 01 đĩa men sứ đều không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền

- 8 -

14.550.000 đồng (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 30/11/2021 và Giấy nộp tiền ngày 30/11/2021).

Căn cứ Điều 136 Bộ L tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Gia K, Trần Văn L, Nguyễn T L, Trần Văn H, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Gia B và Nguyễn Văn S mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331 Bộ L tố tụng hình sự các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ