vanban.org

Bản án 165/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 02/12/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần A. Buộc bà Phạm Hải H thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần A tổng số tiền vốn và lãi là 146.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán , theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, hợp đồng tín dụng , các bên thỏa thuận về vi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "VAY TÀI SẢN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần A. Buộc bà Phạm Hải H thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần A tổng số tiền vốn và lãi là 146.
  • Căn cứ chính? Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2021/DS-ST
Ngày 02 – 12 – 2021
V/v tranh chấp hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Tiến Sĩ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thanh Liêm

Ông Võ Sỹ Hùng

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Cúc – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 02 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 174/2021/TLST-DS, ngày 06 tháng 4 năm 2021 về việc tranh chấp hợp đồng vay theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 584/2021/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A ; Địa chỉ : tầng 1,3,4,5,6 Tòa nhà Thaiholdings ToWer, số 210, đường Trần Quang Khải, phường B, Quận C, Thành Phố D.

Người đại diện theo pháp luật : Ông Phạm Doãn Sơn, chức vụ : Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn : Ông La Thiên Tứ, chức vụ : giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần A chi nhánh G.

Người được đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ủy quyền lại : Bà Đoàn Thúy V, chức vụ : chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng thương mại cổ phần A chi nhánh G.

Bị đơn: Bà Phạm Hải H – sinh năm : 1985; Nơi cư trú : đường 3/2 , khóm H, phường E, thành phố F, tỉnh E. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày : vào ngày 22/4/2020 bà Phạm Hải H ký hợp đồng tín dụng vay tiền tại Ngân hàng thương mại cổ phần A - chi nhánh G ( gọi tắt là ngân hàng A ) số tiền 150.000.000đ; lãi suất 12,5%/ năm, thời hạn vay 60 tháng, mục đích vay : tiêu dùng. Quá trình vay bà H không thanh toán nợ, lãi đúng quy định. Tính đến ngày 02/12/2021 bà H còn nợ ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi là 146.796.285đ ( trong đó vốn 129.624.791; lãi 17.171.494). Nay ngân hàng A yêu cầu bà H thanh toán khoản tiền nêu trên.

Đối với bà Phạm Hải H trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ, song các đương sự vẫn vắng mặt không rõ lý do, nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :

Về thủ tục tố tụng : Bà Phạm Hải H đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do và cũng không có văn bản gì thể hiện ý kiến nên anh tự tước đi quyền và lợi ích hợp pháp của mình, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp giữa các đương sự được xác định là hợp đồng vay tài sản. Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao dịch của các đương sự là có thật xảy ra, chứng cứ được thể hiện tại hợp đồng tín dụng và giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 22/4/2920. Xét thấy số tiền vốn mà đôi bên giao dịch với nhau là phù hợp nên không cần phải điều chỉnh. Tại phiên bà V là người đại diện Ngân hàng A yêu cầu bà H thanh toán tổng số nợ vốn và lãi 146.796.285đ là có căn cứ nên được chấp nhận.

án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà H phải chịu theo quy định. Ngân hàng thương mại cổ phần A được hoàn lại khoản tiền tạm ứng án phí đã dự nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự ; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần A. Buộc bà Phạm Hải H thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần A tổng số tiền vốn và lãi là 146.796.285

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán , theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, hợp đồng tín dụng , các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hành vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Phạm Hải H phải chịu 7.339.000đồng (chưa nộp). Ngân hàng thương mại cổ phần A không phải nộp. Ngày 05 tháng 4 năm 2021 Ngân hàng thương mại cổ phần A đã dự nộp 3.277.000đồng tại lai số 0000517 được hoàn lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điêù 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ