- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Trường G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
| TAND HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2019/HSST Ngày: 26/11/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Văn Dậu và ông Nguyễn Thế Long.
Thư ký phiên toà: Tạ Thị Bích Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 167/2019/HSST, ngày 14 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152K/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Trƣờng G – Sinh năm: 1983.
Nơi ĐKHKTT: Thôn Ngô Nội, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do - Trình độ học vấn: lớp 12/12;
Họ và tên cha: Nguyễn Công H - SN: 1960 – Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Họ và tên mẹ: Lê Thị N, đã chết.
Gia đình bị can có 05 anh em, bị can là con cả.
Vợ: Nguyễn Thị Hồng A– SN: 1986 – Đã ly hôn.
Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 30/9/2019, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Phong khởi tố bị can về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy.
Bị can hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, theo Quyết định tạm giam số 163 ngày 30/9/2019 trong vụ án khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/9/2019, theo Quyết định tạm giữ số: 214 ngày 27/9/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong.
Người bị hại: Anh Trương Công M, sinh năm 1994.
Trú tại: Thôn Đông Thái, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1977.
Trú tại: Thôn Thượng Thôn, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trường G và anh Trương Công M – Sinh năm: 1994 ở thôn Đông Thái, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh là anh em quen biết chơi với nhau. Khoảng 12 giờ ngày 15/3/2019, anh M đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 99D1 – 089.00 vào nhà G ở thôn Ngô Nội, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh chơi. Tại đây, M đưa cho G 100.000 đồng và cho G mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 99D1 – 089.00 để nhờ G đi mua cho anh M một số đồ dùng cá nhân. Khi G đi xe đến phố Chờ, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong thì gặp anh Đào Văn Thanh - Sinh năm: 1982 - Nơi cư trú: thôn Thượng Thôn, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Do G đang nợ anh Thanh số tiền 2.000.000 đồng nên anh Thanh yêu cầu G phải trả nợ ngay vì anh Thanh đang có việc gấp cần đến tiền. Do G không có tiền trả anh Thanh nên G nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy của anh M để gán nợ xe mô tô của anh M cho anh Thanh. G bảo anh Thanh chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 99D1 – 089.00 là xe của G, anh Thanh mang xe đi gửi đâu vay tiền, khi nào G có tiền thì sẽ trả anh Thanh và lấy xe về. Anh Thanh đồng ý và đi chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 99D1 – 089.00 đến nhà anh Nguyễn Văn L - Sinh năm 1977, ở thôn Thượng Thôn, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và cầm cố chiếc xe này cho anh L được số tiền 2.000.000 đồng. G sau khi mua đồ cho anh M xong thì G đi về nhà và kể lại cho anh M biết việc G tự ý gán nợ chiếc xe máy của anh M cho anh Thanh. G hứa với anh M một, hai hôm nữa sẽ lấy xe máy trả cho anh M. Anh M yêu cầu G sớm chuộc xe về trả lại cho anh M. Tuy nhiên, do không có tiền nên G không chuộc xe lại trả cho anh M được.
Ngày 19/04/2019, anh Trương Công M trình báo sự việc đến Công an huyện Yên Phong.
Ngày 23/04/2019, anh Nguyễn Văn L tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 99D1 – 089.00 cho Công an huyện Yên Phong để phục vụ công tác điều tra .
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 30/KL-ĐG ngày 29/04/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Phong kết luận:
“01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 99D1 – 089.00, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc là: 16.000.000 đồng” .
Cáo trạng số 158/CT - VKSYP ngày 11/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố Nguyễn Trường G về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 15/3/2019, tại phố Chờ, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, sau khi được anh Trương Công M cho mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 99D1 – 089.00 để đi mua đồ, Nguyễn Trường G đã sử dụng chiếc xe trên để gán nợ số tiền 2.000.000 đồng cho anh Đào Văn Thanh mà không có sự đồng ý của anh M. Sau đó, G không chuộc lại xe trả lại cho anh M được.
Cũng tại phiên toà hôm nay đại diện VKSND huyện Yên Phong tham gia phiên tòa đã khẳng định: Ngày 15/3/2019, tại phố Chờ, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, sau khi được anh Trương Công M cho mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 99D1 – 089.00 để đi mua đồ, Nguyễn Trường G đã đem chiếc xe trên để gán nợ cho anh Đào Văn Thanh số tiền 2.000.000 đồng mà không có sự đồng ý của anh M. Sau đó, G không chuộc lại xe trả lại cho anh M được, nên đã giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Trường G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; tuyên phạt Nguyễn Trường G với mức án từ 12 tháng đến 14 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 27/9/2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15/9/2019, Cơ quan điều tra đã trả anh Trương Công M chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Drem biển kiểm soát 99D1-089.00. Anh M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác gì về mặc dân sự. Anh Nguyễn Văn L không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬ N ĐỊ NH:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sau khi xem xét lời khai nhận của bị cáo tại giai đoạn điều tra và truy tố phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa thể hiện: Ngày 15/9/2019, tại thị trấn Chờ , huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Trường G đã có hành vi sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 99D1- 089.00 gán nợ cho anh Đào Văn Thanh với số tiền 2.000.000 đồng sau khi được anh M giao xe mà không được sự đồng ý của anh M. Chiếc xe mô tô mà Nguyễn Trường G chiếm đoạt trị giá là 16.000.000 đồng. Do vậy đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Trường G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tổng giá trị tài sản và tiền G chiếm đoạt tài sản của anh M là 16.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo phạm vào điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những x©m ph¹m trùc tiÕp ®Õn quyÒn së h÷u vÒ tµi s¶n cña chñ së h÷u ® îc ph¸p luËt b¶o vÖ, mà còn làm mất trật tự trị an ở địa phương nên hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng đối với bị cáo. Tuy nhiên: Ngày 30/9/2019 bị cáo bị Công an huyện Yên Phong khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Vì vậy bị cáo có nhân thân xấu.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả cho người bị hại. Anh Trương Công M và anh Nguyễn Văn L không có yêu cầu về bồi thường dân sự vì vậy Tòa án không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Trường G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử Phạt: Nguyễn Trường G 14(mười bốn) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án .
Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh; VKSND tỉnh;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà
- VKS, CA, THADS huyện
- Những người tham gia TT
- Lưu HS, VP.
Nguyễn Anh Văn
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Kiều Văn Dậu
Nguyễn Thế Long
Nguyễn Anh Văn
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; VKSND tỉnh; - VKS, CA, THADS huyện - Những người tham gia TT - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà |