- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI --------------------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2019/HS-ST Ngày 27/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Anh Chi.
Ông Nguyễn Văn Xuất.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 196/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh năm 1990 tại Thái Nguyên. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm Đt, xã T, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Đinh Thị T; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2012; Danh chỉ bản số 373 lập ngày 13/8/2019 của Công an huyện Sóc Sơn; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không có tiền sự, tiền án đã được xóa; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 06/8/2019 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07h50 ngày 06/8/2019, tại nhà nghỉ Quang nh thuộc địa phận thôn , xã T, huyện S, Hà Nội Tổ công tác thuộc C ng an huyện Sóc Sơn phối hợp c ng C ng an xã Trung iã, huyện Sóc Sơn, Hà Nội tiến hành kiểm tra hành ch nh đối với Phòng 18 - T ng 3 của nhà nghỉ Quang Anh thấy có 03 nam thanh ni n đang ngủ là: Nguyễn Tr n Xuân Đ(sinh năm 2004, tr tại X, T, S, Hà Nội), Nguyễn inh T (sinh năm 2002, tr tại: NT, TH, Hà Nội , Nguyễn Văn L (sinh năm 1990, tr tại: Xóm Đ, T, thị xã , tỉnh Thái Nguyên) iểm tra phát hiện và tạm giữ của Nguyễn Văn L: + 22 gói nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi ma túy; 01 túi nilon bên trong có chứa 50 viên nén màu xanh, bên trên các viên nén có chữ RR. (Tổ c ng tác đã tiến hành ni m phong theo quy định). + 01 chiếc t i màu xanh có chữ “NIKE”; 01 con dao ng kim loại, dạng dao quắm. Quá trình điều tra làm rõ: Do có nhu c u sử dụng ma t y n n khoảng 02h00 ngày 06/8/2019, L đã mua 10 000 000 đồng (Mười triệu đồng mua t y loại etamine và D (hay còn gọi là "kẹo"). Sau khi mua được ma t y, L để 01 t i nilon, n trong chứa 50 vi n n n màu xanh (là ma t y loại kẹo) tại vị trí L ngủ ở giường bên phải và cất toàn bộ số ma túy (ke) gồm 22 túi nilon vào 01 chiếc túi xách màu xanh, nhãn hiệu Nike để ở góc giường bên trái phòng Sau đó, L ngủ đến 07h00' sáng 06/8/2019 thì bị cơ quan c ng an kiểm tra, phát hiện thu giữ như n u tr n Kết luận giám định của hòng ỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể trắng n trong 22 t i nilon có khối lượng 10,188 gam là ma t y loại etamine; 50 vi n n n hình chữ nhật màu xanh có chữ “ ” có tổng khối lượng 20,008 gam là ma t y loại D Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, L khai mua của một người nam giới tên là G, sống ở khu vực thị xã P, tỉnh Thái Nguyên. Thông qua các mối quan hệ xã hội nên L biết G có ma túy bán và L có tài khoản Zalo của G. Do có nhu c u sử dụng ma túy nên khoảng 02h00 ngày 06/8/2019, L đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo để gọi cho trao đổi và đặt vấn đề mua 10.000 000 đồng ma túy, đồng ý. Khoảng 02h30 c ng ngày, đi 01 taxi đến nhà nghỉ Quang Anh bán cho L 22 túi nilon chứa ma túy Ketamine và 01 túi nilon chứa 50 viên ma túy kẹo với giá là 10 000 000 đồng. Việc giao dịch diễn ra trót lọt, G nhận tiền rồi đi đâu L kh ng rõ L nhận số ma t y đem l n phòng ngủ cất giấu và bị Cơ quan c ng an đến kiểm tra, phát hiện, thu giữ như n u tr n Căn cứ lời khai của L, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định lý lịch đối tượng bán ma túy cho L có tên G nêu trên là: Tr n Văn , sinh năm 1991, tr tại: xóm T 1, xã T, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên. Cơ quan điều tra đã nhiều l n gửi giấy mời, giấy triệu tập nhưng kh ng đến làm việc. Kết quả xác minh, xác định hiện G không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì ch nh quyền địa phương và gia đình đều không biết Do đó, Cơ quan điều tra kh ng có căn cứ để xử lý đối với G trong vụ án này.
Đối với Nguyễn inh T và Nguyễn Tr n Xuân Đ ngủ cùng phòng với L nhưng kh ng iết việc L có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy n n Cơ quan điều tra kh ng đề nghị xử lý gì.
Đối với à Đồng Thị L1 là chủ nhà nghỉ Quang nh, quá trình làm việc với Cơ quan điều tra đã xuất trình đ y đủ giấy ph p kinh doanh và điều kiện kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ theo đ ng quy định của pháp luật Bà L1 kh ng iết việc L có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma t y tại nhà nghỉ n n Cơ quan điều tra kh ng đề nghị xử lý
Về tang vật của vụ án: 02 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Văn L; 01 chiếc t i màu xanh, có chữ N E; 01 con dao quắm ng kim loại Chuyển Tòa án giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị can phù hợp với kết quả thu giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 189/CT-VKS ngày 18/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã n u Bị cáo khai tàng trữ 10,188 gam là ma t y loại etamine và 20,008 gam là ma t y loại D , với mục đ ch sử dụng cho cá nhân, không có mục đ ch án cho người khác kiếm lời. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một l n nữa khẳng định việc truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã n u là đ ng người, đ ng tội, đ ng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội.
Xử phạt: Nguyễn Văn L từ 06 đến 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/8/2019.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì bị cáo là đối tượng nghiện, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì chứa ma t y đã ni m phong có chữ ký của Nguyễn Văn L và iám định viên, 01 chiếc t i màu xanh có chữ “NIKE” và 01 con dao ng kim loại, dạng dao quắm. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Kiểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 07 giờ 50 phút ngày 06/8/2019, tại nhà nghỉ Quang Anh thuộc địa phận thôn P, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 10,188 gam ma t y loại etamine và 20,008 gam ma t y loại D thì bị Tổ công tác của Công an huyện Sóc Sơn kiểm tra, phát hiện bắt giữ. Số ma túy trên, bị cáo khai mua để sử dụng cho cá nhân, không có mục đ ch án kiếm lời. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma t y được quy định điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật quy định: “1 Người nào Tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nh m mục đ ch mua án, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì ị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ... 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì ị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: ... g) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam; … l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam; ...
n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma t y quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;
... ”
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý. Hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm khác; là một vấn nạn mà xã hội đang l n án và đấu tranh nh m loại trừ. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do thiếu tu dưỡng bản thân, không chấp hành quy định của pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do vậy c n phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. hi lượng hình, Hội đồng xét xử xem x t đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 ia đình ị cáo có công với cách mạng (ông nội bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, bà nội bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất) nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 Đây là những căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một ph n hình phạt cho bị cáo lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và l n đ u phạm tội.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã n u tr n; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy c n áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. [4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng” X t ị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [5] Về vật chứng vụ án: Số ma t y loại etamine và ma t y loại MDMA do bị cáo tàng trữ là vật cấm lưu hành; 01 chiếc túi xách màu xanh nhãn hiệu NIKE, 01 con dao quắm b ng kim loại là vật không có giá trị sử dụng, c n tịch thu tiêu hủy. [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào:
- Điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015
- Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử phạt: Nguyễn Văn L 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/8/2019. Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì chứa ma t y đã ni m phong có chữ ký của Nguyễn Văn L và iám định viên, 01 chiếc t i màu xanh có chữ “NIKE” và 01 con dao ng kim loại, dạng dao quắm, k ch thước dài 40cm, bản rộng nhất 5,8cm. Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, tình trạng như Bi n ản bàn giao vật chứng ngày 21/11/2019 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn. Bị cáo phải nộp 200 000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước. Án xử c ng khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Sóc Sơn - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn - Công an huyện Sóc Sơn - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Bị cáo . - Đương sự. - Lưu HS, V | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Duy Khoa |