- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 165/2019/HNGĐ - ST Ngày 30 - 9 - 2019 V/v Tranh chấp Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Khiết
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Hữu Khánh
Ông Nguyễn Văn Mầm
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm - Thư ký Tòa án
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 239/2019/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp Ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị D – sinh năm 1990 (Có mặt)
Cư trú tại: Ấp PL, xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn P – sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Cư trú tại: Ấp PL, xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 29 tháng 5 năm 2019 và tại phiên tòa chị Trần Thị D trình bày:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Đặng Văn P kết hôn vào ngày 26 tháng 11 năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Ban đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng đến năm 2017 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng gay gắt, nguyên nhân mâu thuẫn là không cùng chung quan điểm sống, thường xuyên cải nhau và sự việc không thể giải quyết được dẫn đến vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay. Nay chị Trần Thị D xét thấy vợ chồng không thể sống chung được nữa, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Nên anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cái Nước giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Văn P.
Về con chung: Chị Trần Thị D xác định trong quá trình chung sống chị và anh Phim có một người con chung tên Đặng Minh K, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2011. Hiện con đang sống chung với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con cho đến khi thành niên, không yêu cầu anh Đặng Văn P phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị D xác định trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, vợ chồng không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng. Nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Đặng Văn P kể từ khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Đặng Văn P vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng. Do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh Đặng Văn P hợp lệ đến lần thứ hai để đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh Đặng Văn P vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có bất cứ văn bản nào có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa chị Trần Thị D và anh Đặng Văn P là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Anh Đặng Văn P có địa chỉ tại Ấp PL, xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nhận định của Hội đồng xét xử về nội dung tranh chấp của vụ án:
Về Hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Đặng Văn P kết hôn vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì chị Trần Thị D có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của chị Dưng đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau tiến hành hòa giải tại Tòa án theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đặng Văn P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh Đặng Văn P hợp lệ đến lần thứ hai để đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh Đặng Văn P vẫn vắng mặt không lý do. Do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Đặng Văn P.
Hội đồng xét xử xét thấy, giữa chị Trần Thị D và anh Đặng Văn P phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải vả nhau, từ đó vợ chồng sống ly thân với nhau từ đầu năm 2019 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án anh Đặng Văn P không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có ý kiến gì đối với việc chị Trần Thị D xin ly hôn, nuôi con chung. Điều này cho thấy anh Phim không có thiện chí hàn gắn tình cảm gia đình với chị Dưng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị Trần Thị D và anh Đặng Văn P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị Trần Thị D được ly hôn với Anh Đặng Văn P.
Về con chung: Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình chung sống vợ chồng anh Phim, chị Dưng có một người con chung tên Đặng Minh K, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2011. Hiện con đang sống chung với chị Dưng, khi ly hôn chị Dưng yêu cầu được nuôi con cho đến khi thành niên và không yêu cầu anh Đặng Văn P phải cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản ghi lời khai ngày 31 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thì cháu Đặng Minh K có nguyện vọng được sống với mẹ, nguyện vọng của cháu Khôi phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận, giao cháu Đặng Minh K, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2011 cho chị Trần Thị D tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Anh Đặng Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị D xác định trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung và cũng không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng. Nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Nếu sau này anh Đặng Văn P và chị Trần Thị D có phát sinh tranh chấp về nợ chung thì anh Đặng Văn P và chị Trần Thị D đều có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Trần Thị D phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Các điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Các điều 9, 51, 53, 54, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị D được ly hôn với anh Đặng Văn P.
[2] Về con chung: Giao cháu Đặng Minh K, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2011 cho chị Trần Thị D tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Anh Đặng Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004459 ngày 29 tháng 5 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Chị Trần Thị D đã nộp đủ án phí.
Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Đặng Văn P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - UBND xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Khiết |