vanban.org

Bản án 164/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 12/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Hát M, thành phố Hà Nội giám sát trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "T - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2026/HS-ST
Ngày: 12/6/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hùng

Ông Nguyễn Quang Đoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 117/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2026/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội, Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2026/QĐST-HS ngày 26/5/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Thôn Tam H, xã Hát M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn X (Đã chết); Con bà: Lưu Thị T1, sinh năm 1958; có vợ, có con 04 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 409/2005/HSPT ngày 26/4/2005, Tòa nhân dân tối cao Tòa phúc thẩm tại Hà Nội xử phạt 06 năm tù về tội Cố ý gây thương tích; ra trại ngày 23/10/2007 (Đã được xóa án tích). Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Lê Văn D, sinh năm 1979, cháu Lê Hà P, sinh năm 2013, cùng địa chỉ: Thôn Đồng Vân, xã Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật của cháu P là anh D (bố đẻ) (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 45 ngày 25/9/2025, Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe hạng B2 điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Thaco Kia K190, biển kiểm soát 29H - 750.51 đi trên đường ngã ba đê Tả Đ thuộc thôn Thuận Th, xã Đan Ph, thành phố Hà Nội, đi hướng xã Dương H ra đường Quốc Lộ 32. Khi xe của Thanh đi đến đầu dốc đê có lối rẽ xuống thôn Thu Q, xã Đan Ph thì phát hiện xe mô tô do anh D điều khiển chở con gái là cháu Lê Hà P đi ngược chiều, đang rẽ trái chuyển hướng sang đường nhưng T không phanh dừng xe, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn dẫn đến phần mặt ngoài bên trái biển số xe và ba đờ sốc trước đầu xe ô tô của T điều khiển đâm vào trục, càng bánh trước bên phải xe mô tô do anh D điều khiển đang chuyển hướng rẽ trái để xuống dốc, hậu quả anh D, cháu P bị thương tích nặng.

Hiện trường chung nơi xảy ra tai nạn giao thông là ngã ba Đê Tả Đ với dốc đê xuống thôn Thuận Th, xã Đan Ph, thành phố Hà Nội. Mặt đường được trải nhựa phẳng, đường cong, được chia thành hai chiều đường bởi vạch sơn màu vàng đứt quãng. Mặt đường đê tả đáy có chiều rộng là 6m90, chiều hướng xã Dương H đi quốc lộ 32 là 3m60. Điểm mở giao cắt đường Đê Tả Đ với dốc đê xuống thôn Thuận Th, xã Đan Ph, TP Hà Nội là 28m40. Trước nơi xảy ra tai nạn giao thông cả hai chiều đường đều gắn biển giao nhau không cùng cấp và có gờ giảm tốc.

Vết (1) có diện (4m50x6m) chiều hướng xã Dương H đi Quốc Lộ 32. Cuối vết (1) là bánh xe phía sau bên phải xe ô tô BKS: 29H-750.51. Đo từ đầu vết (1) vuông góc vào mép đường chuẩn là 1m50, cuối vết (1) vuông góc vào mép đường chuẩn là 2m25;

Đo từ đầu vết (1) về hướng mép đường bên phải xã Dương H đi Quốc lộ 32 1m00 là đầu vết (2). Vết (2) có diện (6m20x6m) chiều hướng xã Dương H đi Quốc Lộ 32. Cuối vết (2) là mặt lăn bánh xe phía trước bên phải xe ô tô BKS: 29H- 750.51;

Đo từ đầu vết (2) vuông góc vào mép đường chuẩn là 1m45, cuối vết (2) vuông góc vào mép đường chuẩn là 2m05; Vết (3) có diện (4m85x0,1m) cuối vết (3) là mặt lăn bánh xe phía sau bên trái xe ô tô BKS: 29H-750.51.

Đo từ đầu vết (3) vuông góc vào mép đường chuẩn là 3m50, chiều hướng vết (3) xã Dương H đi Quốc lộ 32;

Đo từ đầu vết (3) về hướng Quốc lộ 32 3m00 là đầu vết (4). Vết (4) có diện (4m30x0.06) chiều hướng xã Dương H đi Quốc Lộ 32. Cuối vết (4) là mặt lăn bánh xe phía trước bên trái xe ô tô BKS: 29H-750.51;

Đo vuông góc từ đầu vết (4) vào mép đường chuẩn là 3m00, cuối vết (4) vuông góc vào mép đường chuẩn 2m80;

Đo từ cuối vết (4) về hướng Quốc lộ 32 0.35m là cuối vết (5), vết (5) có diện (0,2mx0,03), chiều hướng xã Dương H đi Quốc lộ 32, Đo vuông góc từ đầu vết (5) vào mép đường chuẩn là 3m80, cuối vết (5) vuông góc vào mép đường chuẩn là 3m80;

Đo từ cuối vết (4) về hướng Quốc lộ 32 0.5m là đầu vết (6) có diện (3m75x0,01m), chiều hướng xã Dương H đi Quốc lộ 32, đo vuông góc từ đầu vết (6) vào mép đường chuẩn là 3m45, cuối vết (6) vào mép đường chuẩn là 3m80, cuối vết (6) là đầu ngoài bàn đề chân trước bên trái xe mô tô BKS: 29X3-292.71;

Đo từ đầu vết (6) vào mép đường bên phải hướng xã Dương H đi Quốc lộ 32 0,8m là đầu vết (T), vết (T) có diện (3m40x0,01m) chiều hướng xã Dương H đi Quốc lộ 32. Đo từ đầu vết (7) vuông góc vào mép đường chuẩn là 3m35, cuối vết (7) vào mép đường chuấn 4m50;

Cuối vết (4) là trục trước bên trái xe ô tô BKS: 29H-750.51. Xe ô tô được đỗ trên mặt đê Tả Đ, đầu hướng Quốc Lộ 32, đuôi xe hướng xã Dương H. Đo từ trục trước bên phải xe ô tô này vuông góc vào mép đường chuẩn là 2m05, đo từ trục sau bên phải xe ô tô này vuông góc vào mép đường chuẩn là 2m25; Cuối vết (6) là bàn để chân trước bên trái xe mô tô BKS: 29X3-29271, xe mô tô này bị đồ nằm nghiêng về bên trái, đầu xe hướng Quốc Lộ 32, đuôi xe hướng xã Dương H. Đo từ trục trước xe mô tô này vuông góc vào mép đường chuẩn là 3m50, trục sau xe mô tô này vuông góc vào mép đường chuẩn là 3m90; Mép đường chuẩn là mép đường bên phải hướng xã Dương H -Quốc lộ 32; Đo từ trục trước xe mô tô BKS: 29X3-29271 về hướng Quốc lộ 32 3m30 là chân cột biển báo hiệu giao nhau không cùng cấp là điểm mốc; Phương tiện, dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu được: Xe ô tô tải BKS: 29H- 750.51 bị hư hỏng phần đầu xe; Xe mô tô BKS: 29X3-292.71 bị hư hỏng phần đầu xe.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29X3-292.71: Mặt sau ốp nhựa bảo vệ đầu xe có 02 vết vỡ nhựa, đầu chắn bùn bánh xe trước bị vỡ nhựa; phần chắn bùn còn gắn trên xe bị lệch sang phải, cụm càng bánh trước bị cong lệch từ phải sang trái, mặt ngoài càng xe bên phải có vết trượt xước kim loại, dính chất màu đen; mặt lăn của lốp bánh trước có vết trượt xước cao su dạng vân tròn, dính chất màu trắng; Cánh yếm bên phải xe bị gãy chốt, lệch khỏi vị trí ban đầu, mép cánh yếm này có vết trượt xước nhựa, dính chất màu trắng chiều hướng từ trước về sau; Bàn để chân trước bên trái xe bị cong lệch từ dưới lên trên; Bàn để chân phía sau bên trái xe có vết trượt xước cao su, chiều hướng từ trước về sau.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô tải nhãn hiệu Thaco, biển kiểm soát 29H - 750: Kính chắn gió phía trước của xe ô tô có vết rạn vỡ tại khu vực trung tâm, xuất phát từ một điểm va chạm tại vị trí gần đầu cần gạt nước bên trái xe. Từ điểm va chạm này, các đường nứt lan tỏa ra xung quanh; Biển số phía trước xe gắn với ba đờ sốc bị móp méo, lõm từ ngoài vào trong, từ trái sang phải. Tại biển số này có 02 vết: Vết trượt xước kim loại, dính chất màu đen, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải tại góc bên phải của biển số; Vết trượt xước kim loại, mất sơn, dính chất màu trắng, diện (5x3) cm, chiều hướng từ trên xuống dưới tại vị trí góc trên, bên trái của biển số; Ba đờ sốc phía trước xe bị móp méo, lõm từ ngoài vào trong, từ trái sang phải tại vị trí gắn với biển số xe. Tại khu vực này có 02 vết: Vết thủng nhựa từ ngoài vào trong, diện (3.5x3) cm tại vị trí phía dưới của biển số, cách số "1" trên biển số 3xm; Vết trượt xước nhựa, dính chất màu đen, diện (10x5) cm, chiều hướng từ trái sang phải, tại vị trí dưới góc trái của biển số.

Ngày 27/10/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số B15226/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội để giám định dấu vết cơ học của 02 phương tiện xe ô tô và xe mô tô nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định số 7794/KL-KTHS ngày 12/11/2025 của Viện khoa học hình sự Bộ công an, kết luận:

“1. Dấu vết, chiều hướng và vị trí va chạm giữa 02 phương tiện:

1.1. Dấu vết trượt xước, mất sơn màu đen và vàng, xước cong kim loại, xước lõm, rách thủng nhựa trên diện (26x9) cm ở mặt ngoài bên trái biển số và ba đờ sốc trước đầu xe ô tô biển kiểm soát: 29H-750.51, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải (bản ảnh A3 đến A6) phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen và vàng (Dạng sơn) trên diện(26x7) cm ở mặt ngoài ốc, trục và càng bánh trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát: 29X3-292.71, chiều hướng từ trước ra sau.

1.2. Dấu vết rạn nứt, vỡ kính trên diện (90x68) cm ở mặt ngoài kính chắn gió trước đầu xe ô tô biển kiểm soát: 29H-750.51, chiều hướng từ trước ra sau do va chạm với vật tày gây ra.

1.3. Dấu vết trượt xước kim loại, nhựa, cao su ở mặt ngoài bên trái xe mô tô biển kiểm soát: 29X3-292.71 (đầu tay lái, cánh yếm, đầu bàn để chân trước, tay nâng yên xe, để chân sau), chiều hướng từ trước ra sau (Ảnh B7-B11) do va chạm với vật tày cứng.

1.4. Dấu vết còn lại trên 02 phương tiện không đủ yếu tố giám định

2. Không xác định được tốc độ của xe ô tô bà xe mô tô nêu trên khu xảy ra va chạm.

3. Khi xảy ra va chạm, vị trí của xe ô tô biển kiểm soát: 29H-750.51 và xe cô mô biển kiểm soát: 29X3-292.71 trên mặt đường ở khoảng từ vết mài trượt ký hiệu số (1), (2) đến vị trí xe ô tô dừng đỗ theo sơ đồ hiện trường”.

- Ngày 29/10/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số B 15322, B15323, B15322/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Trung tâm pháp y Hà Nội để xác định tỷ lệ thương tích, cơ chế hình thành thương tích đối với cháu Lê Hà P và anh Lê Văn D (Bút lục số 83, 90).

Tại Bản kết luận giám định số 1536/KLTTCT-TTPY ngày 16/12/2025 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Hà Nội về thương tích của anh Lê Văn D, kết luận:

“…1. Các kết quả chính:

1.1. Sẹo vết mổ bán cầu não trái: 03%.

1.2. Sẹo dẫn lưu vùng trán - đỉnh trái: 01%.

1.3. Sẹo vết thương cung mày phải: 03%.

1.4. Sẹo vết thương vùng mũi: 03%.

1.5. Gãy xương mũi: 07%.

1.6. Tụ máu dưới màng cứng, đã phẫu thuật máu tụ, không còn hình ảnh trên phim: 08%.

1.7. Xuất huyết dưới nhện trong vài rãnh cuộn não vùng trán hia bên dọc liềm đại não, không còn hình ảnh trên phim: 08%.

1.8. Khuyết sọ bán cầu não trái, đã phẫu thuật vá xương tự thân kích thước 9,7 cm x 8 cm: 26%.

1.9. Tụ máu ngoài màng cứng, đã phẫu thuật lấy máu tụ, không còn hình ảnh trên phim: 05%.

1.10. Tổn thương nhu mô não vùng trán trái, còn ổ giảm tỷ trọng đường kính > 2 cm: 26%.

2. Kết luận:

2.1 Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn D tại thời điểm giám định là: 63%, áp dụng phương pháp cộng tại thông tư số 22/2029/TT-BYT.

2.2. Kết luận khác:

Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của Lê Văn D do va đập với vật tày, tày có cạnh gây ra”.

Tại Bản kết luận giám định số 1432/KLTTCT-TTPY ngày 24/11/2025 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Hà Nội về thương tích của cháu Lê Hà P, kết luận:

“1. Các kết quả chính:

1.1. Sẹo vết mổ mặt trước cẳng chân phải: 02%.

1.2. Sẹo dẫn lưu mặt trước ngoài 1/3 trên cẳng chân phải: 02%.

1.3. Gãy hai xương cẳng chân phải đã mổ kết hợp xương: 16%.

2. Kết luận:

2.1 Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Lê Hà P tại thời điểm giám định là: 19%, áp dụng phương pháp cộng tại thông tư số 22/2029/TT-BYT.

2.2. Kết luận khác:

Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của cháu Lê Hà P do vật tày gây ra”.

Ngày 28/10/2025, Cơ quan điều tra đã ra Yêu cầu định giá tài sản số B20609/QĐ-VPCQCSĐT, yêu cầu định giá phần hư hỏng của xe ô tô và xe mô tô nêu trên (Bút lục số 95).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2025 của Hội đồng định giá tài tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự xã Đan Phượng về trị giá 02 xe nên trên, kết luận: “Phần hư hỏng của xe ô tô tải, biển kiểm soát 29H- 750-51 là 4.104.000 đồng; Phần hư hỏng của xe mô tô, biển kiểm soát 29X3

- 292.71 là 1.885.000 đồng. Tổng cộng là 5.989.000 đồng”.

Hồi 10 giờ 00 ngày 27/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội tiền hành rà soát Camera quanh khu vực, kết quả: Không có Camera nào ghi nhận sự việc nêu trên.

Ngày 10/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội tiến hành rà soát biển báo giao thông đường bộ trên đoạn đường khu vực xảy ra tai nạn, kết quả: “Rà soát theo hướng xã Dương H đi xã Đan Phượng tại đường đê Thu Q thuộc thôn Thuận Th, Đan Ph, Hà Nội (Tại vị trí hiện trường xảy ra tai nạn giao thông ngày 25/9/2025: Bên phải đường cách mép đầu rẽ xuống dốc đi thôn Thuận Th 33m30 tại mặt đường có vạch sơn giảm tốc màu vàng (05 vạch liền), tiếp đó cách mép đầu rẽ xuống dốc đê thôn Thuận Th 33m20 có 01 biển báo giao thông đường bộ "Biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên" .

Rà soát theo hướng xã Đan Phượng đi xã Dương H tại đường đê Thu Q nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông nêu trên: Bên phải đường cách mép đầu dốc xuống thôn Thuận Th (Đo vuông góc) 14m10 dưới lòng đường có vạch sơn giảm tốc màu vàng (05 vạch sơn liền màu vàng). Tiếp đó cách mép đầu dốc xuống thôn Thuận Th (Đo vuông góc) 7m40 có 01 (một) biển báo giao thông đường bộ "Biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên".

Rà soát theo hướng từ dốc đê đi lên mặt đê Thu Q nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông nêu trên: Cách mép đầu dốc trên mặt đê 06 mét có biển báo giao thông đường bộ "Cấm rẽ trái".

Bản Cáo trạng số 34/CT-VKSKV8 ngày 29 tháng 4 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c, khoản 1, Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên. Bị cáo cũng trình bày đã nhận thức việc làm của mình là sai pháp luật nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 260; điểm s,b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng. Bị hại đã nhận được tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác. Xử lý vật chứng: Trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số 010185101689 có giá trị đến ngày 08/11/2028 cho Nguyễn Văn T. Về dân sự: Không. Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ 45 ngày 25/9/2025, Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe hạng B2 điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Thaco Kia K190, biển kiểm soát 29H - 750.51 đi trên đường ngã ba đê Tả Đ thuộc thôn Thuận Th, xã Đan Ph, thành phố Hà Nội, đi hướng xã Dương H ra đường Quốc Lộ 32. Khi xe của T đi đến đầu dốc đê có lối rẽ xuống thôn Thu Q, xã Đan Ph thì phát hiện xe mô tô do anh D điều khiển chở con gái là cháu Lê Hà P đi ngược chiều, đang rẽ trái chuyển hướng sang đường nhưng T không phanh dừng xe, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn dẫn đến phần mặt ngoài bên trái biển số xe và ba đờ sốc trước đầu xe ô tô của T điều khiển đâm vào trục, càng bánh trước bên phải xe mô tô do anh D điều khiển đang chuyển hướng rẽ trái để xuống dốc, hậu quả anh D, cháu P tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 79%.

Từ những tình tiết nêu trên có đủ cơ sở xác định nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông trong vụ án có một phần lỗi của Lê Văn D điều khiển xe chuyển hướng không đảm bảo an toàn đã vi phạm vào khoản 3 Điều 15 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: “Khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường đường cho người đi bộ, xe thô sơ, xe đi ngược chiều và chỉ chuyển hướng khi không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người, phương tiện khác”. Đối với Nguyễn Văn T có lỗi đã vi phạm điểm b, khoản 3, Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: “Ngưởi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong trường hợp: Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường” gây hậu quả anh D bị tổn thương cơ thể 60%, cháu P 19%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 79% và đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo qui định tại điểm c, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại sức khỏe của người khác. Do vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi tội phạm của bị cáo nhằm ngăn ngừa tội phạm nói chung và giáo dục bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự

. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị hại có một phần lỗi không có Giấy phép lái xe, khi chuyển hướng xe không nhường đường cho xe ô tô do Thanh điều khiển đang đi ngược chiều. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy, bị cáo nơi cư trú cụ thể rõ ràng, là lao động chính trong gia đình và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên, nên chỉ cần áp dụng mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, được cải tạo, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ cải tạo bị cáo và răn đe người khác. Tạo điều kiện bị cáo sửa chữa lỗi lầm, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.

. Về hình phạt bổ sung: Hành vi của bị cáo là lỗi vô ý nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã bồi thường gia đình bị hại số tiền 57.000.000 đồng, gia đình bị hại đã nhận tiền và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về vật chứng của vụ án: Ngày 26/01/2026, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu Thaco, biển kiểm soát 20H - 750.51; 01 đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 29H - 750.51; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 29H - 750.510 và 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô biển kiểm soát 29H - 750.51 cho Công ty Cổ phần Thương mại đầu tư vận tải An Bình. Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 29X3- 292.71 cho Lê Văn D là có căn cứ.

Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số 010185101689 có giá trị đến ngày 08/11/2028 mang tên Nguyễn Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo T.

. Các vấn đề khác: Đối với Lê Văn D điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không có Giấy phép lái xe, khi chuyển hướng xe không nhường đường cho xe ô tô do T điều khiển đang đi ngược chiều đã vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 3 Điều 15 Luật giao thông đường bộ nhưng hành vi của anh D chỉ gây thương tích cho cháu Lê Hà P là 19% (dưới 61%), thiệt hại của xe ô tô là 1.885.000 đồng (dưới 100.000.000 đồng) nên không cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội không đề cập xử lý hình sự mà ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Dân là có căn cứ.

. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Hát M, thành phố Hà Nội giám sát trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số 010185101689 có giá trị đến ngày 08/11/2028 cho Nguyễn Văn T. Về dân sự: Không

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ