- Tranh chấp gì? án hành chính — "kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai của bà Nguyễn Thị T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 43 Luật Đất đai năm 2003, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 102 của Luật Đất đai năm 2024; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án…
- Căn cứ chính? Điều 3 Luật Tố tụng hành chính; Điều 102 Luật Đất đai; Điều 115 Luật Tố tụng hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2025/HC-ST Ngày: 08 - 9 - 2025 V/v: Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Triết;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Ánh Hồng;
2. Ông Nguyễn Như Ẩm.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 118/2025/TLST-HC ngày 15/5/2025, về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2025/QĐXXST-HC ngày 20/8/2025, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk, có mặt;
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk (theo Giấy uỷ quyền ngày 21/5/2025), có mặt.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk;
Người đại diện theo uỷ quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E: Ông Trương Văn L – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk (theo Giấy uỷ quyền ngày 22/7/2025), có mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt;
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk (theo giấy uỷ quyền ngày 02/6/2025), có mặt;
3.2. Tổng Công ty P - Công ty cổ phần; địa chỉ: Số F N, Khu đô thị S, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Văn K – Chức vụ: Giám đốc Công ty T1 – Chi nhánh Tổng Công ty P - Công ty cổ phần; Ông Nguyễn Văn H – Chức vụ: Trưởng Phòng Hành chính và Lao động, Công ty T1 – Chi nhánh Tổng Công ty P - Công ty cổ phần ; địa chỉ: B M, phường T, tỉnh Đắk Lắk (theo Giấy uỷ quyền ngày 04/6/2025), vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người khởi kiện trình bày có nội dung như sau:
Vào trước những năm 1990, gia đình bà Nguyễn Thị T có tự khai hoang, phục hóa một số diện tích đất canh tác nông nghiệp tại thôn B, xã E, huyện B, nay thuộc công trình lòng hồ Thủy điện Srêpôk 3 và đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Đến cuối năm 2011, UBND huyện B ban hành Quyết định số 3845/QĐ-UBND ngày 09/12/2011 về phê duyệt hiệu chỉnh Quyết định số 2910/QĐ-UBND ngày 28/10/2011 về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ hạng mục cắm mốc tăng dày, bổ sung mốc ranh giới lòng hồ đợt 2 trên địa bàn 2 xã T và xã E, huyện B công trình Thủy điện Srêpôk 3, trong đó đã bồi thường hỗ trợ cho gia đình bà T một số diện tích đất canh tác nông nghiệp, cây trồng... Tuy nhiên, trên diện tích đất bị Nhà nước thu hồi được bồi thường hỗ trợ này thì gia đình bà T trước đó đã đầu tư xây dựng một bể nước vào khoảng tháng 4/2010 có kích thước 8,5m x 6m x 1,35m với tổng dung tích là 68,85m2 nhưng không được các cơ quan chức năng của Nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục cần thiết để tiến hành bồi thường, hỗ trợ cho gia đình bà T theo quy định pháp luật hiện hành, đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà T. Kể từ khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì năm 2012 đến nay gia đình bà T cùng 14 hộ dân đã nhiều lần và liên tục tìm đến chính quyền địa phương các cấp để trình bày, khiếu nại nhưng chưa được giải quyết thỏa đáng theo quy định pháp luật. Nay bà T yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc người thừa kế quyền và nghĩa vụ của UBND huyện B là Chủ tịch UBND xã E phải lập phương án và tiến hành bồi thường, hỗ trợ bể nước nuôi trồng thủy sản cho gia đình bà T.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là Chủ tịch UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk là ông Trương Văn L trình bày nội dung như sau:
1. Căn cứ, trình tự thủ tục và nội dung khi ban hành Quyết định số 2910/QĐ-UBND ngày 28/10/2011 và Quyết định số 3845/QĐ-UBND ngày 09/12/2011.
Căn cứ các biên bản xác minh hiện trạng đất đai, tài sản, vật kiến trúc, cây trồng của các hộ dân bị thu hồi đất trong khu vực giải toả xây dựng công trình thủy điện S, hạng mục: tăng dày ranh lòng hồ của Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án thủy điện S.
Căn cứ Biên bản họp thẩm định ngày 05/10/2011 của Hội đồng thẩm định về thẩm định phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Ngày 07/10/2011, UBND huyện B ban hành Quyết định số 2688/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của 131 hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã T, E phục vụ thi công: Hạng mục ngập dày mốc đợt 2 - Công trình thủy điện S, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 28/10/2011, UBND huyện ban hành Quyết định số 2910/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng, mặt bằng hạng mục cắm mốc tăng dày, bổ sung ranh giới lòng hồ đợt 2, trên địa bàn 02 xã E và T huyện B thuộc công trình nhà máy S.
Ngày 09/12/2011, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư công trình Thủy điện SrêPôk 3 ban hành phương án số 29/PA-BTHT về bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng công trình trình thủy điện S, hạng mục công trình: Phương án Hiệu chỉnh Quyết định số 2910-QĐ/UBND ngày 28/10/2011 của UBND huyện. Lý do hiệu chỉnh: Tại quyết định số 2910 đã phê duyệt còn một số các loại cây trồng như chuối và các loại cây trồng hàng năm khác có mật độ trồng dày so với mật độ quy định tại Quyết định số 01/2011/QĐ-UBND ngày 07/01/2011 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định giá bồi thường cây trồng, tài sản, vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh, nên Hội đồng kiểm tra không áp giá bồi thường cho các loại cây trồng vượt mật độ theo đúng quy định. Các loại cây trồng dày và trồng xen Hội đồng làm Tờ trình xin ý kiến với UBND tỉnh xem xét hỗ trợ tránh thiệt thòi cho người dân bị thu hồi đất.
Cùng ngày, UBND huyện ban hành Quyết định số 3845/QĐ-UBND về việc phê duyệt Hiệu chỉnh Quyết định số 2910/QĐ-UBND của UBND huyện về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng, mặt bằng hạng mục cắm mốc tăng dày, bổ sung ranh giới lòng hồ đợt 2, trên địa bàn 02 xã E và T, huyện B thuộc công trình nhà máy S.
Như vậy, UBND huyện ban hành các Quyết định số 2910/QĐ-UBND và Quyết định số 3845/QĐ-UBND là đúng trình tự thủ tục theo quy định.
2. Căn cứ pháp lý thực hiện: Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ; Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ T2; Quyết định số 19/2008/QĐ-UBND ngày 16/5/2008 của UBND tỉnh Đắk Lắk; Quyết định số 37/2010/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của UBND tỉnh Đ; Quyết định số 01/2011/QĐ-UBND ngày 07/01/2011 của UBND tỉnh Đ; Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 25/02/2010 của UBND tỉnh Đ;
3. Ý kiến, kiến nghị, quan điểm của UBND xã E: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
*/ Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tổng Công ty P - Công ty cổ phần T có nội dung như sau:
Công trình thủy điện Srêpốk 3 có công suất 220MW, được khởi công vào cuối năm 2005, bắt đầu tích nước và phát điện vào năm 2010. Trong quá trình thi công xây dựng công trình, Ban Q đã phối hợp với Hội đồng bồi thường, hỗ trợ - tái định cư công trình thủy điện S (do UBND huyện B thành lập) và các đơn vị chức năng liên quan xúc tiến công tác bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng và tái định canh, tái định cư theo tiến độ thi công xây dựng công trình.
Hồ thủy điện S được bắt đầu tích nước vào ngày 12/5/2010 và đạt mực nước dâng bình thường vào ngày 23/6/2010. Trong quá trình tích nước đến mực nước dâng bình thường, Ban Q đã nhận được phản ánh của các hộ dân và chính quyền địa phương về việc nước hồ ở một số khu vực đã ngập vượt mốc ranh lòng hồ đã được bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng trước đây, nên Ban Q đã mời Tư vấn khảo sát thiết kế, cắm mốc tăng dày, bổ sung mốc ranh giới lòng hồ, đo đạc địa chính để xác định diện tích đất cần thu hồi bổ sung cho công trình xây dựng lòng hồ. Căn cứ hồ sơ địa chính được lập bổ sung, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư công trình thủy điện S huyện B tiến hành kiểm kê và lập phương án bồi thường, hỗ trợ trình cấp thẩm quyền phê duyệt để chi trả bổ sung cho người dân. Hồ sơ bồi thường, hỗ trợ được lập theo 02 đợt cắm bổ sung mốc ranh giới lòng hồ và tiến hành chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho các hộ dân theo các phương án bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt tại Quyết định số 3206/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 và Quyết định số 3845/QĐ-UBND ngày 09/12/2011 của UBND huyện B.
Trong số các hộ dân được bồi thường, hỗ trợ theo các Quyết định số 3206 và 3845 nêu trên, có 14 hộ có bể nước với dung tích trên 15m3 đã được kiểm kê (trong khoảng thời gian từ tháng 11/2010 đến tháng 5/2011), nằm trên đất được thu hồi bổ sung để xây dựng lòng hồ, nhưng do các bể không đảm bảo chất lượng xây dựng, không sử dụng được (không chứa được nước/không có nước), nên Hội đồng bồi thường, hỗ trợ không áp giá đền bù mà gác lại để xin ý kiến UBND tỉnh.
Sau khi quyết toán hoàn thành dự án và thực hiện thủ tục bàn giao Chủ đầu tư cho đơn vị phát điện, Ban Q đã bàn giao các công việc còn lại của dự án thủy điện Srêpốk 3 cho Tổng Công ty P1 vào tháng 6/2013. Khi tiếp nhận bàn giao các công việc còn lại của dự án thủy điện Srêpốk 3, Công ty T1 không nhận được thông tin gì về các bể nước trên đất lòng hồ thủy điện S.
Sau một thời gian phối hợp với chính quyền địa phương giải quyết các công việc còn lại của dự án thủy điện Srêpốk 3, Công ty T1 nhận được Văn bản số 127/CV-TNMT ngày 11/9/2020 của Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện B lấy ý kiến về việc bồi thường hỗ trợ bể nước thuộc công trình thủy điện S giai đoạn 2010-2011. Đây là lần đầu tiên Công ty nhận được văn bản đề cập tồn tại về bồi thường hỗ trợ bể nước của 14 hộ dân sau hơn 09 năm từ ngày phương án bồi thường hỗ trợ được phê duyệt (09/12/2011-11/9/2020). Theo đó, Công ty đã tổ chức nghiên cứu hồ sơ và nhận thấy đó là tồn tại của dự án, nên đã phối hợp chính quyền địa phương để giải quyết.
Sau một thời gian với nhiều cuộc họp do UBND huyện B chủ trì để xem xét, lấy ý kiến về các phương án giải quyết; căn cứ Kết luận của Lãnh đạo UBND huyện tại Biên bản làm việc ngày 26/11/2021 và đề nghị của UBND huyện tại văn bản số 58/UBND-KTHT ngày 20/01/2022, Công ty đã hoàn thiện dự toán chi phí xây dựng bể nước của 14 hộ dân trong khu vực giải tỏa xây dựng công trình lòng hồ thủy điện Srêpôk 3 và trình UBND huyện B tại Tờ trình số 153/TTr-TĐBK ngày 21/01/2022. Dự toán đã được thẩm định và được UBND huyện B phê duyệt tại Quyết định số 511/QĐ-OBND ngày 25/01/2022. Tiếp đó, UBND huyện có văn bản số 94/UBND-TNMT ngày 28/01/2022 giao Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện xây dựng phương án bồi thường hỗ trợ bể nước và thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ cho các hộ dân; giao Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện tổ chức thẩm định, tham mưu UBND huyện quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ. Tuy nhiên, sau một thời gian Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện không triển khai xây dựng phương án bồi thường hỗ trợ theo dự toán chi phí xây dựng bể nước đã được phê duyệt tại Quyết định số 511/QĐ-UBND ngày 25/01/2022 nêu trên, UBND huyện B đã tổ chức rà soát lại hồ sơ và sau đó đã ban hành Quyết định số 3952/QĐ-UBND ngày 11/10/2023 hủy bỏ Quyết định số 511/QĐ-UBND ngày 25/01/2022 nêu trên.
Qua tìm hiểu quá trình xem xét hồ sơ bồi thường hỗ trợ bể nước, được biết tuy hầu hết các hộ dân kê khai xây dựng bề nước trước thời điểm tích nước hồ thủy điện S, nhưng đều là công trình xây dựng không đảm bảo chất lượng, đa số không sử dụng được (không chứa được nước/không có nước), nên UBND huyện không lập phương án bồi thường hỗ trợ chi phí xây dựng các bề nước đã nêu, mà đề nghị Công ty T1 thỏa thuận với các hộ dân để thực hiện việc hỗ trợ chi phí xây dựng các bể chứa nước trên cơ sở dự toán được phê duyệt tại Quyết định số 511/QĐ-UBND ngày 25/01/2022 nêu trên. Tuy nhiên, Công ty T1 không thể sử dụng nguồn vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để bồi thường hỗ trợ cho các hộ dân khi chưa có phương án bồi thường hỗ trợ được phê duyệt bởi cơ quan quản ý Nhà nước có thẩm quyền.
Ngày 21/02/2024, có 06 hộ dân có Đơn khởi kiện và được TAND tinh Đắk Lắk thụ lý vụ án hành chính số 47/2024/TLST-HC ngày 06/3/2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa 06 Người khởi kiện và Người bị kiện là UBND huyện B; còn Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Tổng Công ty P - Công ty cổ phần. Tại Bản án sơ thẩm số 144/2024/HC-ST ngày 22/8/2024, TAND tỉnh Đắk Lắk đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của 06 người dân khởi kiện; buộc UBND huyện B phải lập phương án bồi thường hỗ trợ chi phí xây dựng bể nước của 06 người khởi kiện theo giá hiện hành và khối lượng dự toán đã được xác định tại Quyết định số 3845/QĐ-UBND ngày 09/12/2011 của UBND huyện B.
Thực hiện Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực và ý kiến đề nghị của UBND huyện B về việc thực hiện bản án, Công ty T1 đã lập dự toán chi phí xây dựng bể nước của 06 hộ dân, trình các cơ quan chức năng thẩm định, làm cơ sở để xây dựng phương án bồi thường hỗ trợ cho các hộ dân để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Dự toán toán chi phí xây dựng bể nước của 06 hộ dân đã được UBND huyện B phê duyệt tại Quyết định số 422/QĐ-TĐBK ngày 21/01/2025. Hiện phương án bồi thường hỗ trợ chi phí xây dựng bể nước cho các hộ dân áp dụng hệ số hỗ trợ theo quy định, nhưng người dân không đồng ý, nên đang khởi kiện trở lại.
Về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T:
Tại Quyết định số 3845/QĐ-UBND ngày 09/12/2011 của UBND huyện B có ghi chú "chờ xin ý kiến tỉnh" đối với đề xuất khối lượng và đơn giá bồi thường bể nước, đến nay vẫn chưa xin ý kiến UBND tỉnh Đ nên chưa đủ cơ sở pháp lý để công nhận phương pháp tính giá bồi thường bể nước đó. Ngoài ra, đa số các công trình xây dựng bể nước không đảm bảo chất lượng, không sử dụng được (không chứa được nước/không có nước) trong thời gian hơn 01 năm kể từ khi xây dựng hoàn thành đến thời điểm kiểm kê hiện trạng (có hình ảnh bể nước vào thời điểm kiểm kê như nêu tại mục 2 trong Phụ lục 1 và Bảng tổng hợp thông tin về tình trạng bể nước như Phụ lục 2 đính kèm), nên các công trình xây dựng đó không được xem xét bồi thường, hỗ trợ.
Sau năm 2011, UBND huyện B không có báo cáo, đề xuất, xin ý kiến của UBND tỉnh để giải quyết việc bồi thường các bề nước, nhưng ít nhất là trong 05 năm sau đó, các hộ dân vẫn không có kiến nghị gì về việc bồi thường bể nước.
Khi các hộ dân có kiến nghị bồi thường bể nước vào năm 2020, Công ty T1 đã áp dụng quy định về giá bồi thường tài sản, vật kiến trúc trên đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, ban hành theo Quyết định số 13/2017/QĐ-UBND ngày 16/3/2017 của UBND tỉnh Đ để lập dự toán chi phí xây dựng công trình, làm cơ sở tính giá bồi thường tài sản về nước là đúng quy định.
Trong đó, Công ty áp dụng quy định tại mục 4 phần II: “Đối với tài sản, vật kiến trúc không có trong quy định này: Chủ đầu tư, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường căn cứ hồ sơ, tài liệu liên quan, định mức dự toán xây dựng công trình, đơn giá xây dựng công trình, chế độ hiện hành do Nhà nước quy định trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng lập dự toán chi phí bồi thường tài sản, vật kiến trúc...” là đúng quy định pháp luật; được đơn vị chức năng liên quan thẩm định và được UBND huyện B phê duyệt tại Quyết định số 511/QĐ-UBND ngày 25/01/2022 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
Việc UBND huyện B ban hành Quyết định số 3952/QĐ-UBND ngày 11/10/2023 hủy bỏ Quyết định số 511/QĐ-UBND ngày 25/01/2022 nêu trên, rồi không có hướng lập và phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ hợp lý chi phí xây dựng bể nước cho các hộ dân là nằm ngoài thẩm quyền giải quyết của Công ty T1. Công ty M cơ quan thẩm quyền có ý kiến tổ chức lập lại dự toán chi phí xây dựng bể nước của các hộ dân, làm cơ sở để lập phương án bồi thường hỗ trợ, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để chi trả tiền bồi thường hỗ trợ cho các hộ dân, nhằm kết thúc các khiếu kiện. Đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C, người đại diện theo uỷ quyền của ông C là bà Hoàng Thị Đ có nội dung trình bày giống như ý kiến của người khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày ý kiến xác định: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử và Thư ký cũng như các đương sự đã tuân thủ và thực hiện đúng với quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc buộc UBND xã E (người kế thừa quyền và nghĩa vụ của UBND huyện B) thực hiện hành vi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về tài sản là bể nước cho gia đình bà Nguyễn Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện:
Về thẩm quyền: Ngày 09/12/2011, UBND huyện B, tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số: 3845/QĐ-UBND về việc phê duyệt hiệu chỉnh Quyết định số 2910/QĐ-UBND ngày 28/10/2011 của UBND huyện B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ hạng mục cắm mốc tăng dày, bổ sung mốc ranh giới lòng hồ đợt 2, trên địa bàn 2 xã T và E huyện B thuộc công trình nhà máy S, trong đó có bồi thường hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị T. Ngày 25/01/2022, UBND huyện B, tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 511/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự toán chi phí xây dựng bể nước của 14 hộ dân trong khu vực giải tỏa xây dựng công trình lòng hồ thủy điện S (trong đó có bà Nguyễn Thị T). Ngày 11/10/2023, UBND huyện B, tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 3952/QĐ-UBND về việc hủy bỏ Quyết định số 511/QĐ-UBND ngày 25/01/2022 của UBND huyện B. Bà Nguyễn Thị T cho rằng việc UBND huyện B chưa bồi thường, hỗ trợ nuôi trồng thủy sản cho gia đình bà là đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà nên bà khởi kiện, đây là hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai; do đó theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 3; khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì yêu cầu của người khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Về thời hiệu khởi kiện: Bà Nguyễn Thị T đã làm đơn đến UBND huyện B để đề nghị UBND huyện B bồi thường, hỗ trợ kinh phí xây dựng bể nước tại công trình thủy điện S, xã E, theo đó ngày 10/10/2024 UBND huyện B ban hành Công văn số 1488/UBND-VP hướng dẫn bà T gửi đơn đến Công ty T1 để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 15/4/2025, bà Nguyễn Thị T gửi đơn khởi kiện đến Tòa án là trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án hành chính là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
Về người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng sau khi sáp nhập:
Theo đơn khởi kiện thì bà Nguyễn Thị T xác định người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện B và bể nước mà người khởi kiện yêu cầu xem xét toạ lạc tại xã E. Như vậy, căn cứ điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền phân cấp trong lĩnh vực đất đai thì Hội đồng xét xử cần xác định người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện B là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E.
Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên toà:
Đối với người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Tổng Công ty P – Công ty cổ phần vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 158 của Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Thị T, xét thấy:
Ngày 07/10/2011, UBND huyện B ban hành Quyết định số 2688/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của 131 hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã T, E phục vụ thi công: Hạng mục ngập tăng dày mốc đợt 2 – Công trình thủy điện S, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, trong đó có thu hồi 4.215m2 đất của bà Nguyễn Thị H1.
Tại biên bản xác định hiện trạng ngày 10/5/2011 thể hiện hộ bà Nguyễn Thị T có 01 bể nước xây gạch bê tông + bậc thang có trát vữa 2 mặt, nền móng xi măng có thể tích 103,5m3, năm xây dựng tháng 4/2010 (có ghi chú 11,5x6x1,5 không chứa được nước).
Tại Quyết định số 3845/QĐ-UBND ngày 09/12/2011 của UBND huyện B về việc phê duyệt hiệu chỉnh Quyết định số 2910/QĐ-UBND ngày 28/10/2011 của UBND huyện B về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ hạng mục cắm mốc tăng dày, bổ sung mốc ranh giới lòng hồ đợt 2, trên địa bàn 2 xã T và E huyện B thuộc công trình nhà máy S, trong đó có nội dung bồi thường tài sản của bà Nguyễn Thị T. Tuy nhiên, tại bảng kê chi tiết bồi thường hỗ trợ phần tài sản của bà Nguyễn Thị T có bể nước, nhưng tại mục ghi chú thể hiện chờ ý kiến Tỉnh, không thể hiện số tiền bồi thường.
Khoản 2 Điều 43 Luật Đất đai năm 2003, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:
“2. Khi Nhà nước thu hồi đất, người bị thu hồi đất không được bồi thường về tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp sau đây:
a) Tài sản gắn liền với đất được tạo ra tại khu vực đất bị thu hồi sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được công bố mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
b) Tài sản gắn liền với đất được tạo ra trước khi có quyết định thu hồi đất mà trái với mục đích sử dụng đất đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại thời điểm xây dựng công trình đó;
c) Đất bị thu hồi thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 4, 6, 7 và 10 Điều 38 của Luật này.”
Như vậy, theo Quyết định số 3845/QĐ-UBND ngày 09/12/2011 của UBND huyện B chưa được phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ do chờ ý kiến của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Tính đến thời điểm hiện tại, UBND huyện B chưa phê duyệt phương án bồi thường đối với bể nước là làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà Nguyễn Thị T.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T có căn cứ, cần chấp nhận, để buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk (người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk) phải ban hành Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bể nước trong lòng hồ thủy điện Sêrêpốk 3 cho bà Nguyễn Thị T theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T được chấp nhận nên bà T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. UBND huyện B (người thừa kế quyền và nghĩa vụ là Chủ tịch UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk) phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3, khoản 4 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; Điều 115; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 158; điểm c khoản 2 Điều 193 và Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP của Chính Phủ.
Áp dụng: Điều 43 Luật Đất đai năm 2003, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 102 của Luật Đất đai năm 2024; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Thị T.
Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk) phải ban hành Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bể nước trong lòng hồ thủy điện Sêrêpốk 3 cho bà Nguyễn Thị T theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk) phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, bà T được nhận lại số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp (do bà Hoàng Thị Đ nộp thay) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000129 ngày 09/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk).
3. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Toà PT TANDTC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Đình Triết |