vanban.org

Bản án 164/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 23/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Lê Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là 20-6-2023. Tịch thu và tiêu hủy các vật chứng sau đây: Khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) bì công văn dán kín ghi số: 577/PC09 ngày 28-6-202… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Như Quỳnh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Lê Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GIA LAI
------------
Bản án số: 164/2023/HSST
Ngày 23-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thưởng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Dệt và ông Trần Bá Lý.

- Thư ký phiên tòa:

Ông Phạm Quang Hoàn, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa:

Ông Trịnh Nguyễn Thanh An - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Lê Q, sinh năm 1996 tại tỉnh Gia Lai; nơi thường trú: Thôn Ly, thị trấn I, huyện P, tỉnh Gia Lai; nơi tạm trú: Tổ 3, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê T và bà: Nguyễn T; chưa có chồng; có 01 tiền án: Ngày 21-12-2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19-5-2022; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 20-6-2023, sau đó bị tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua các mối quan hệ ngoài xã hội, Lê Q có số điện thoại của đối tượng Tý là người bán ma túy. Khoảng 15 giờ ngày 20-6-2023, Q gọi điện thoại cho Tý hỏi mua ma túy để sử dụng, Tý đồng ý và hẹn giao dịch trước khu nhà trọ của Q tại số 137 đường V, tổ 6, phường Đ, thành phố P. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, tại điểm hẹn nêu trên, Q đã mua của Tý 05 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 800.000 đồng nhằm mục đích sử dụng. Sau khi mua được ma túy, Q cầm trên tay phải rồi về đến trước cửa phòng trọ vào lúc 15 giờ 35 phút cùng ngày thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố P bắt quả tang và thu giữ trên tay phải của Q 05 gói nilon bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể (được niêm phong theo quy định); và thu giữ của Q 01 điện thoại hiệu Iphone 5 kèm sim số (mặt sim có dãy số 89840 48000 38203 9079).

Kết luận giám định số: 577/KL-KTHS ngày 28-6-2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 05 gói nilon trong bì công văn niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,5886 gam”.

Cáo trạng số: 172/CT-VKS, ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố Lê Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Lê Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các Điều: 38, 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Q: Từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; tịch thu và tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định và 01 sim số; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 đã qua sử dụng. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo pháp luật tố tụng hình sự. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo cung cấp đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 15 giờ 35 phút ngày 20-6-2023, tại phòng trọ số 02, khu nhà trọ số 137 đường V tổ 6, phường Đ, thành phố P, khi Lê Q đang tàng trữ 0,5886 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Khi thực hiện hành vi tàng trữ ma túy, Lê Q có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm gia tăng tệ nạn xã hội tại địa phương.

Từ những nhận định tại các luận điểm [1] đến [3] như đã nêu trên đã có đủ căn cứ tuyên bố Lê Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tình tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lê Q không bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng nên bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Nhưng bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Với tính chất của vụ án và các tình tiết về nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở các luận điểm từ [3] đến [4] như đã nêu trên, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; phù hợp với nhận định, đánh giá của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay. Việc áp dụng hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, giáo dục, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo được tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng, khối lượng không lớn, bị cáo không có tài sản riêng.

Xử lý vật chứng: Khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 sim số, là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu và tiêu hủy; 01 điện thoại di động hiệu Iphone là phương tiện bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, nhưng là tài sản có giá trị nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước, theo quy định tại Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xem xét các hành vi của người có liên quan: Quá trình điều tra vụ án không xác định được nhân thân của đối tượng tên Tý, là đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Q. Do đó, chưa có căn cứ để xử lý đối tượng tên Tý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố Lê Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều: 38, 50 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Lê Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là 20-6-2023.

-Căn cứ vào các điểm: a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu và tiêu hủy các vật chứng sau đây: Khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) bì công văn dán kín ghi số: 577/PC09 ngày 28-6-2023 có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai; và 01 sim số, mặt sau sim có dãy số 89840 48000 38203 9079.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5 (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong).

Vật chứng nêu trên được thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06-10-2023, giữa Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P.

-Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

-Căn cứ vào các Điều: 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Báo cho: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ